Friday, September 01, 2006

Portal kiến thức cơ bản

Từ "portal" có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng trong phạm vi bài viết này thì portal được dùng theo nghĩa 'cổng giao dịch điện tử', một hệ thống thông tin có hai chức năng chính. Ở góc độ hệ thống mạng nội bộ thì portal đảm nhận nhiệm vụ đảm bảo thông tin cho công tác chuyên môn.

Ở góc độ khách hàng hay đối tác kinh doanh thì portal chính là nơi doanh nghiệp tiếp xúc, trao đổi và thực hiện giao dịch với đối tác, khách hàng của mình. Khi một doanh nghiệp nào đó có portal thì tất cả mọi giao dịch đều được thực hiện trên một giao diện duy nhất nhưng thông tin được thể hiện theo ý thích đến tận cá nhân người sử dụng. Và portal cũng làm cho quá trình trao đổi thông tin giữa các nhân viên trong một doanh nghiệp với khách hàng hay đối tác được nhanh chóng, thuận tiện và ít tốn kém. Hiện nay người ta đã chứng minh được rằng chỉ sau 18 tháng triển khai portal thì doanh nghiệp đã có thể bắt đầu thu hồi vốn đầu tư cho hệ thống.

Đó là lợi ích hứa hẹn của hệ thống portal, nhưng việc xây dựng một hệ thống portal hoàn toàn không nhẹ nhàng chút nào. Khác với việc xây dựng một web site, xây dựng một portal không chỉ là xây dựng cơ sở hạ tầng mà còn bao gồm việc xác định và lập danh sách các chức năng chuyên môn chính cần phải thực hiện trên portal, và đây chính là bước quan trọng nhất. 

Một portal cơ bản không được làm yếu đi hay gây quá tải khả năng cung cấp thông tin của hệ thống, thông tin lại phải được cung cấp tùy theo chức năng, nhu cầu của từng cá nhân cụ thể. Bất cứ một người sử dụng nào, chỉ cần đăng nhập vào hệ thống một lần duy nhất là có thể giao tiếp và khai thác mọi thông tin theo yêu cầu chuyên môn của họ, không cần biết thông tin đó được lấy ở đâu, từ nguồn nào trong hệ thống.

Portal còn làm thay đổi khái niệm xây dựng, phân phối và phát triển một ứng dụng phần mềm. Người xây dựng, nhà phát triển portal phải nằm vững khái niệm về dịch vụ web là gì, như thế nào là một ứng dụng trên nền web và tuân thủ một loạt các tiêu chuẩn dành riêng cho mô hình portal như Microsoft .Net, Sun Java System, WSRP và hàng loạt những đặc tả về Java Portlet (JSR 168, 170, 188, 207). Việc tuân thủ tốt các tiêu chuẩn chung và thống nhất sẽ làm cho các ứng dụng có thể giao tiếp và trao đổi thông tin lẫn nhau trong một portal cho dù chúng được xây dựng hay tích hợp từ nhiều nguồn khác nhau (xem mục 'Tiêu chuẩn đặc trưng cho portlet, ứng dụng chức năng chạy trên portal' để biết thêm chi tiết). Hệ thống các tiêu chuẩn chung và phân chia một cách khoa học cũng giúp người xây dựng portal tự do tìm kiếm và chọn lựa các ứng dụng thích hợp với yêu cầu chuyên môn của mình, không cần quan tâm đến ai là người sản xuất ra phần mềm chức năng đó. Như vậy, thay vì tốn công, tốn tiền của cho công tác đào tạo, huấn luyện mỗi khi chuyển sang sử dụng công nghệ mới, thì từ nay người phát triển ứng dụng tập trung khai thác tối đa kiến thức, năng lực sẵn có của họ để xây dựng hệ thống ứng dụng.

Các giải pháp xây dựng portal hàng đầu hiện nay hoặc dựa trên tiêu chuẩn J2EE chạy trên máy chủ như WebSphere của IBM, hoặc theo mô hình của WebLogic của BEA, hoặc là chuẩn .Net của Microsoft. Ngoài ra cũng có thể sử dụng kết hợp các giải pháp với nhau. Nhưng cho dù portal được xây dựng từ giải pháp nào đi nữa thì nó cũng phải đảm bảo các yếu tố như có khả năng tích hợp, khai thác tốt cơ chế bảo mật và mô hình cấu trúc trên hệ thống sẵn có của người sử dụng.

Có 3 hình thức xây dựng portal: Hình thức phổ biến nhất là xây dựng portal trên cơ sở một bộ phần mềm hệ thống chuyên dùng, từ chuyên môn gọi là APS - Application Platform Suite. Bộ phần mềm APS thường có tối thiểu 3 thành phần chính: Bộ phần mềm phát triển ứng dụng cho máy chủ, cơ chế tích hợp hệ thống do công ty sản xuất phần mềm xây dựng và phần mềm portal. Các sản phẩm portal do BEA, IBM, Oracle, Sun và Microsoft sản xuất thuộc loại này.

Sử dụng APS để xây dựng portal có thuận lợi là tận dụng được các chương trình phần mềm đang vận hành tốt trên hệ thống cùng hệ thống cơ sở dữ liệu sẵn có. Nhưng điều này lại trói chặt người sử dụng vào mô hình phát triển portal của công ty sản xuất phần mềm cụ thể.

 

PORTAL, PORTLET VÀ PORTLET CONTAINER LÀ GÌ?

 

 


Trên quan điểm của người lập trình và xây dựng hệ thống portal thì:

Portal là ứng dụng có chức năng: Phối hợp, quản lý và điều khiển các portlet đã cài đặt trong hệ thống nhằm xử lý và cung cấp thông tin; Cung cấp, trình bày thông tin trên màn hình theo yêu cầu, sở thích của từng cá nhân người sử dụng; Quản lý người sử dụng trong suốt quá trình tham gia vào hệ thống portal để khai thác thông tin.

Portlet là một thành phần web riêng biệt, có một hay một vài chức năng cụ thể nào đó, giúp portal hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình. Mọi yêu cầu của người sử dụng đối với portlet đều phải thông qua giao diện của portal.

Porlet Container là một chức năng quản lý hệ thống của portal nhằm: Cung cấp môi trường thực thi cho portlet; Xác định và phân phối yêu cầu khai thác thông tin từ portal đến đúng portlet có khả năng giải quyết; Quản lý thời gian sống của các portlet cài đặt trong hệ thống (khởi động và loại bỏ các portal không cần thiết để giải phóng bộ nhớ cho hệ thống); Gửi kết quả xử lý thông tin của portlet cho portal để chuyển giao cho người sử dụng.

 

Hình thức tiếp theo là định hướng lại dòng luân chuyển thông tin của tất cả các hệ thống ứng dụng hiện có trong doanh nghiệp thông qua một ứng dụng portal đã xây dựng sẵn. Vignette và Plumtree là sản phẩm thuộc dạng này. Đi theo hình thức này, doanh nghiệp tuy mất đi khả năng quản trị hệ thống thống nhất từ một đầu mối nhưng lại được tự do chọn lựa các ứng dụng chạy trên máy chủ cùng các chương trình phần mềm chuyên dụng.

Hình thức cuối cùng là triển khai portal theo hướng sử dụng hệ thống phần mềm hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP-Enterprise Resource Planning) có chức năng portal của các công ty như SAP cung cấp. Do chưa có đủ thời gian thử nghiệm nên hình thức xây dựng portal này sẽ được đề cập trong một bài viết khác.

BEA WEBLOGIC PLATFORM 8.0

Bộ phần mềm gồm 3 sản phẩm: WebLogic Portal, WebLogic Server, WebLogic Workshop và sản phẩm tùy chọn WebLogic Integration. WebLogic Platform (WP) làm thành một môi trường hoàn hảo để xây dựng portal và các ứng dụng chạy trên môi trường quy mô lớn. Người phát triển hệ thống cũng có thể sử dụng các công cụ lập trình quen thuộc để xây dựng chương trình rồi tích hợp lên hệ thống bằng các chương trình dịch vụ Web có sẵn trong WP. Công cụ quản trị hệ thống dùng giao diện web nên bất cứ ai cũng có thể sử dụng để cấu hình portal chỉ cung cấp những thông tin cần khai thác, loại bỏ (che đi) các thông tin không cần thiết.

Bộ phần mềm này cung cấp đầy đủ các chức năng cần thiết để xây dựng portal như tổng hợp thông tin, tìm kiếm thông tin theo yêu cầu và một số chức năng phục vụ thương mại điện tử… Chức năng WebLogic Integration Server của BEA giao tiếp rất tốt với nhiều phần mềm chức năng do các công ty sản xuất phần mềm thứ ba xây dựng và cả hệ thống máy chủ.

 

OracleAS Portal tập trung các chức năng quản trị hệ thống vào giao diện duy nhất

Công cụ phát triển ứng dụng của WP là phần mềm có tên WebLogic IDE, phần mềm này có khả năng dò tìm, phát hiện tất cả các chương trình chức năng xây dựng bằng Java để người phát triển hệ thống khai thác, sử dụng. Có chức năng tạo profile cho từng người sử dụng nên mỗi người chỉ cần thực hiện đăng nhập 1 lần, còn hệ thống tự động quản lý phiên làm việc và chuyển giao các thông tin cần thiết khi có yêu cầu, nhất là khi truy cập vào các hệ cơ sở dữ liệu. Phần mềm WebLogic WorkShop là công cụ để thiết kế trang thông tin, sử dụng XML để quản lý định dạng, nên có thể thay đổi linh hoạt hình thức thể hiện thông tin trên các trang web. WebLogic WorkShop cũng có thể tự động sinh mã ứng dụng theo ngôn ngữ JSP dựa trên các thông tin mà người xây dựng hệ thống khai báo. Ngoài ra còn có công cụ Portal Resource Designer để thiết kế thuộc tính, luật sinh, định dạng thông tin theo thói quen của người sử dụng hay các phiên bản quảng cáo phục vụ các chiến dịch quảng cáo…

Công việc quản trị hệ thống được phân chia tách bạch theo chức năng cung cấp hay quản trị thông tin. Nhờ đó có thể phân công, phân cấp và giao quyền để nhiều người cùng tham gia công việc khác nhau. Ví dụ như trong khi người phát triển hệ thống đang dùng WebLogic Workshop để thiết kế trang web thì nhà kinh doanh vẫn có thể cấu hình và quy định portal chạy theo yêu cầu nghiệp vụ của mình.

Chức năng quản lý nội dung (content management) của WebLogic Portal cũng khá đầy đủ. Người sử dụng có thể tìm và duyệt thông tin theo cấu trúc cây thư mục, cập nhật các loại tập tin nếu cần. Tuy nhiên, chức năng tìm kiếm của WebLogic lại bị bó gọn trong nội bộ kho dữ liệu của nó, không có khả năng mở rộng tìm kiếm sang các portal được xây dựng bằng các công cụ khác, ví dụ như Microsoft SharePoint Portal. Cơ chế quản trị nội dung cũng không chỉ dành riêng chỉ cho những người quản trị hệ thống, nếu thấy cần thiết thì các thành viên trong nhóm phát triển hệ thống cũng có thể chỉnh sửa nguồn thông tin hay hình thức thể hiện thông tin của trang web bằng công cụ Content Selector Editor. Người sử dụng thông thường cũng có thể thay đổi trang web dành riêng cho họ có tên là My Pages.

Sản phẩm WebLogic Portal 8.1 phù hợp với yêu cầu xây dựng những portal được tích hợp từ những hệ thống thương mại điện tử sẵn có và ứng dụng phức tạp.

 

TIÊU CHUẨN CỦA MỘT PORTAL QUY MÔ XÍ NGHIÊP

 

 


Quản trị dễ dàng: Thông qua một giao diện web thống nhất để thực hiện tất cả các công việc quản trị hệ thống như cấp quyền đăng nhập, phân nhóm người sử dụng… và ngay cả các tác vụ quan trọng như sao lưu dữ liệu, nhân bản và kiểm tra tính nhất quán của dữ liệu.

An toàn: Đạt tiêu chuẩn SSO (single sign-on- đăng nhập hệ thống 1 lần duy nhất), hệ thống portal phải giao tiếp tốt với cơ chế bảo mật LDAP hay cơ chế bảo mật tương tự khác. Có thể quản trị cả những người sử dụng đang làm việc tại các máy tính trên Internet, bên ngoài firewall.

Tùy biến dễ dàng: Người sử dụng có khả năng tự động cấu hình portal để chỉ cung cấp hình thức và số lượng thông tin mình cần, tùy thuộc vào vai trò, vị trí, nhu cầu thông tin của người sử dụng.

Chia sẻ thông tin: Người sử dụng trong portal phải có đầy đủ các công cụ như: thư tín điện tử, hội thảo nhóm… để trao đổi, chia sẻ thông tin với mọi người trong hệ thống.

Khả năng mở rộng hệ thống: Tiêu chuẩn này còn tùy thuộc vào từng sản phẩm portal. Nếu nhu cầu chỉ là một vài chức năng hỗ trợ kinh doanh thì các sản phẩm như SAP, Siebel là đạt yêu cầu. Nhưng nếu portal được tích hợp thêm các API hay tiêu chuẩn XML thì người sử dụng tự do xây dựng cơ chế cung cấp thông tin theo sở thích cá nhân.

Tính khả chuyển: Vì hệ thống sẽ phục vụ hàng ngàn đối tượng khác nhau nên sản phẩm portal phải hỗ trợ cơ chế xử lý phân luồng, mô hình dữ liệu phân tán, cân bằng động, nhân bản…

Sự hữu dụng: Các portal, nhất là portal hoạt động theo mô hình B-to-C (nhà kinh doanh-người tiêu dùng) do trình độ, nhu cầu của người sử dụng rất khác nhau, nên portal phải có thể tùy biến giao diện, hình thức thể hiện thông tin, có công cụ tìm kiếm thông tin hữu hiệu.

Giá cả: Giá thành một portal không chỉ bao gồm chi phí mua bản quyền phần mềm portal, mà còn phải tính cả các chi phí về đào tạo, tinh chỉnh hệ thống….

 

MICROSOFT SHAREPOINT PORTAL SERVER

Là một phần mềm được thừa hưởng tất cả các công nghệ của Microsoft nên SharePoint Portal Server (SPS) chắc chắn là một sản phẩm thu hút sự chú ý của nhiều người.

Sản phẩm chỉ cài đặt được trên hệ thống Windows 2003 thiết lập Active Directory và hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu SQL Server 2000. Thời gian cài đặt chỉ mất khoảng 1 giờ nếu hệ thống đã thỏa mãn điều kiện vừa đề cập. Ngay sau khi cài đặt, hệ thống portal đã có các chức năng cơ bản như: tìm kiếm, cung cấp thông tin theo chủ đề hay điểm tin theo thời gian. Hệ thống cũng được cung cấp sẵn các ứng dụng hệ thống để người dùng cuối tích hợp dữ liệu trong bộ Outlook Office của mình lên hệ thống. Vì chạy trong môi trường có Active Directory nên việc gán quyền hạn cho người sử dụng không mấy khó khăn. Hệ thống cũng có thể tái sử dụng các thông tin về người sử dụng đang có sẵn trong hệ thống Microsoft Exchange. Thủ tục tạo các trang web định dạng mặc định (default) khá đơn giản.

Có rất nhiều cách khác nhau để xây dựng cấu trúc một hệ thống portal: xây dựng theo chủ đề, xây dựng hệ thống thiên về khả năng tìm kiếm, xây dựng bằng cách sử dụng nội dung đã được xây dựng từ trước.

Tương tự như các sản phẩm khác của Microsoft, giao diện của sản phẩm rất thân thiện và dễ hiểu. Mỗi người phát triển hệ thống có riêng một vùng làm việc gọi là MySites. Đến khi công việc hoàn thiện, họ có thể thực hiện thủ tục chuyển giao kết quả công việc lên hệ thống bằng thủ tục kéo-thả. Theo mặc định thì vùng làm việc MySite là dành riêng cho từng người, nhưng nếu muốn cũng có thể chia sẻ kết quả công việc cho mọi người.

Chức năng tìm kiếm trong sản phẩm hoạt động rất tốt và khá chính xác, có khả năng thực hiện tìm kiếm trên các hệ thống khác nhau như SharePoint Portal, Lotus Notes, Exchange và các thư mục dùng chung tập tin. Cũng do tích hợp tốt với MS Office 2003 nên người sử dụng có thể tạo và soạn thảo Word ngay trong portal rồi ghi lên vùng Document Workspace. Nhờ tính năng này nên hệ thống portal có đầy đủ các chức năng quản trị nội dung như quản trị, thẩm định phiên bản phát hành của tài liệu… 

SharePoint Portal Server tích hợp với Microsoft Office 2003 để chia sẻ dữ liệu

 

Cũng chính do tích hợp với Office 2003 nên web site trong portal có cấu trúc, nội dung tương tự như web site của phần mềm FrontPage 2003. Người phát triển cũng sử dụng phần mềm này để xây dựng các trang web định dạng, kết nối và truy xuất dữ liệu từ SQL 2000. Người phát triển cũng có thể sử dụng bộ công cụ Visual Studio .Net để xây dựng hệ thống và các chương trình chức năng chạy trên server sử dụng công nghệ .Net được đặt tên là Web Parts. Về chức năng bảo mật, SharePoint cũng cho phép người sử dụng thực hiện thủ tục đăng nhập 1 lần duy nhất trong phiên làm việc.

Tuy nhiên sản phẩm chưa hỗ trợ chuẩn JSR 168, ngoài ra việc tích hợp tốt với MS Office 2003 cũng có nghĩa là một số chức năng không thực hiện được nếu hệ thống sử dụng Office 2000 hay XP. Sản phẩm có khả năng khai thác hơn 300 chức năng kết nối dữ liệu cần thiết của ứng dụng Microsoft BizTalk Server và có các chương trình dựng sẵn để giao tiếp với các hệ thống khác như SAP, Siebel và PeopleSoft.

Nhìn chung, sản phẩm có những ưu điểm nổi trội hơn so với các phiên bản trước. Tích hợp tốt với các sản phẩm làm việc dành cho người sử dụng như MS Office, hay các công cụ phát triển hệ thống và cơ sở hạ tầng của Microsoft.

ORACLEAS PORTAL 10G

Oracle Application Server 10g gồm OracleAS Portal cùng với một loạt các công cụ phát triển, tiện ích đi kèm như OralceAS Reports, Oracle Single Sign-On, Oracle Ultra Search, Oracle Internet Directory (OID) và OracleAS Integration. Hệ thống phức tạp nhưng công việc quản trị hệ thống rất đơn giản do sự phối hợp và lệ thuộc lẫn nhau giữa các công cụ rất chặt chẽ. Và cũng chính vì quá lệ thuộc lẫn nhau nên khi muốn thay thế một công cụ của Oracle bằng công cụ của các hãng thứ ba để mở rộng chức năng sẽ rất khó khăn và phức tạp.

Các portlet có sẵn trong OracleAS Portal cho phép sắp xếp và phân cơ chế bảo mật hệ thống thành nhiều cấp độ khác nhau cho từng trang web một. Việc làm này tạo thuận lợi để chia sẻ, phân công nhiệm vụ quản trị hệ thống cho nhiều người cùng tham gia quản trị. Do bộ phận Application Server có quá nhiều thành phần chức năng nên chính bản thân phần mềm phải tự đảm nhận các chức năng thiết yếu để đảm bảo hệ thống có cấu trúc cây thư mục và yêu cầu quản lý như Oracle quy định. Nếu muốn sử dụng các phần mềm bảo mật khác thì người quản trị phải tự mình quản lý số ID cho các sản phẩm không phải do Oracle sản xuất.

Thủ tục khởi tạo một portal trong Oracle rất nhẹ nhàng, không cần lập trình. Mọi thủ tục cần thiết được thực hiện nhờ sự giúp đỡ, hướng dẫn của một trình wizard cùng các chức năng tiện ích đã có sẵn trong sản phẩm.

 

CỔNG GIAO DỊCH ĐIÊN TỬ 'MADE-IN VIÊT NAM' VỚI KHẢ NĂNG NHÂN BẢN

 

 


Lợi ích của cổng giao dịch điện tử (GDĐT) không có gì phải bàn cãi, đặc biệt là đối với các dịch vụ hành chính công. Để cổng GDĐT phát huy hiệu quả đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều đơn vị, muốn thế, các đơn vị này phải có website và các website này cũng phải có đủ các tính năng cơ bản của một cổng GDĐT (như hệ thống thông tin hai chiều, tìm kiếm…) đồng thời có khả năng 'liên thông' với nhau. Trong điều kiện nước ta thì đây là vấn đề không đơn giản, vì không phải đơn vị nào cũng có đủ khả năng tài chính và nhân lực để xây dựng và duy trì cổng GDĐT. Việc triển khai không đồng bộ có thể dẫn đến khó khăn trong việc chia sẻ thông tin giữa các đơn vị.

Giải pháp cổng GDĐT với khả năng nhân bản của công ty CTSoft (www.ctsoftsolutions.com) có khả năng giải quyết những khó khăn trên. Giải pháp này được xây dựng theo công nghệ J2EE, máy chủ ứng dụng Weblogic (hoặc WebSphere,…), triển khai trên nền HĐH máy chủ Linux hoặc Windows.

Khả năng nhân bản được thực hiện nhờ công cụ sinh mã được tích hợp sẵn trong hệ thống. Người quản trị có thể dùng các template và dịch vụ có sẵn để thiết lập cổng GDĐT cho đơn vị trực thuộc. Việc thiết lập một cổng GDĐT mới với các dịch vụ cơ bản như cập nhật tin, diễn đàn (forum), hỏi-đáp, tìm kiếm… chỉ mất vài giờ, các dịch vụ có thể bổ sung. Mỗi cổng GDĐT của đơn vị trực thuộc được phân quyền quản trị riêng. Thao tác quản trị hệ thống đơn giản, không cần người quản trị có nhiều kiến thức lập trình. Một điểm quan trọng là các đơn vị trực thuộc sẽ không phải tốn chi phí trang bị server và hosting riêng.

 

Tương tự như sản phẩm của IBM và Sun, OracleAS Portal 10g cũng có chức năng xuất thông tin lên trang web dành cho thiết bị di động. Ngoài ra, sản phẩm cũng hỗ trợ hơn 28 ngôn ngữ khác nhau và có thể dịch nội dung từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác.

Phương thức xuất bản nội dung lên portal cũng rất phong phú, ví dụ như dùng tiện ích WebClipping để hiển thị thông tin của một trang web nào đó và các thông tin này có thể được một portlet khác dùng để hiển thị dưới dạng đồ thị thay cho dạng văn bản mà WebClipping vừa cung cấp. Việc xây dựng và chuyển giao dữ liệu giữa các portlet cũng rất dễ dàng và hầu như không cần lập trình. Thủ tục thêm bớt các tập tin HTML và JSP vào portal cũng như vậy. Việc tìm kiếm và tích hợp dữ liệu từ các nguồn không phải là Oracle được thực hiện nhờ web dịch vụ và một vài chương trình hệ thống có sẵn trong sản phẩm.

Về chức năng lập trình phát triển hệ thống, Oracle cung cấp các công cụ như: OracleAS Integration dùng để xây dựng các portlet giao tiếp với SAP, PeopleSoft, Siebel và một số cơ sở dữ liệu cao cấp khác; Oracle JDeveloper 10g để xây dựng các ứng dụng Java theo tiêu chuẩn J2EE. Cũng phải kể đến thư viện có hơn 400 portlet khác nhau để sử dụng trong hệ thống. Việc quản trị nội dung portal cũng rất ấn tượng, cơ chế hoạt động không đơn thuần chỉ là kiểm soát việc bổ sung hay loại bỏ tài liệu, gán quyền truy xuất và tự động loại bỏ thông tin cũ, mà chức năng này còn được dùng cho người phát triển để xây dựng, bảo trì hệ thống; nhân viên trong doanh nghiệp cũng có thể khai thác chức năng này để thực hiện nghiệp vụ kinh doanh. 

 

Sun Indentity Server tích hợp mọi tác vụ thực hiện trong một giao diện thống nhất

Công cụ Oracle Ultra Search của phần mềm có khả năng lập chỉ mục tất cả các loại thông tin, trong cơ sở dữ liệu, các tập tin lưu trên ổ đĩa, trong hệ thống thư tín điện tử hay web site. Khác với các chương trình tìm kiếm khác, Oracle Ultra Search có thể cung cấp thông tin lấy từ hai hay nhiều kho dữ liệu của portal cùng một lúc, hay có thể tiếp tục thực hiện thủ tục tìm kiếm trong khi người sử dụng đang xem nội dung mới tìm thấy (chỉ có Plumtree mới có chức năng tương tự).

Hoạt động ngay bên dưới toàn bộ các cơ chế, chức năng nêu trên là côngcụ Oracle Application Server. Công cụ này thực hiện chức năng thu thập thông tin do các portlet cung cấp, quản trị bộ nhớ đệm, tập hợp thông tin thành trang web rồi cung cấp cho người sử dụng trong thời gian ngắn nhất. Nhìn chung đây là sản phẩm có đầy đủ các tính năng chuyên cho một portal quy mô công nghiệp.

SUN JAVA SYSTEM PORTAL SERVER 6.2 (JSPS 6.2)

Là sản phẩm của một hãng phần mềm dẫn đầu về công nghệ Java và sản xuất máy chủ nên sản phẩm portal JSPS 6.2 của Sun cũng thừa hưởng được tất cả những ưu điểm để trở thành một giải pháp portal an toàn, ổn định và có khả năng mở rộng. Có thể cài đặt JSPS 6.2 trên nhiều cấu hình phần cứng và hệ điều hành khác nhau. Nếu muốn, người ta cũng có thể sử dụng các phần mềm do công ty khác sản xuất để thay thế một vài chức năng có sẵn trong JSPS 6.2.

Bộ công cụ quản trị hệ thống được Sun nghiên cứu, thiết kế kỹ lưỡng và chi tiết nên chạy rất ổn định. Chỉ cần cài đặt tại một máy chủ nào đó trong hệ thống là người quản trị đã có thể bao quát được toàn bộ hệ thống portal cùng số lượng máy chủ trong hệ thống. Ngoài ra nó còn cung cấp một loạt các lệnh thực thi từ dòng lệnh để xác định tên và chức năng của các ứng dụng portal chạy ở chế độ dịch vụ hệ thống.

An toàn hệ thống là một trong những thế mạnh của Sun, JSPS 6.2 sử dụng cơ chế bảo mật LDAP và tiêu chuẩn bảo mật, quản lý tài nguyên Liberty Alliance 1.1. Hệ thống portal xây dựng bằng JSPS 6.2 chỉ yêu cầu người sử dụng đăng nhập một lần trong suốt quá trình khai thác thông tin, cho dù thông tin phân bố trên nhiều portal khác nhau và do nhiều hệ điều hành, lớp dịch vụ… khác nhau cung cấp. JSPS cũng cung cấp cơ chế xây dựng cổng truy cập từ xa có bảo mật để tổ chức và xây dựng các mạng riêng ảo theo mô hình VPN.

Không ôm đồm công việc quản trị hệ thống cho chỉ một người quản trị duy nhất, JSPS sắp xếp và phân loại nhiệm vụ quản trị hệ thống theo chức năng để có thể phân quyền quản trị hệ thống cho nhiều người cùng tham gia. Cơ chế quản lý nội dung cũng rất chuyên nghiệp để trình bày thông tin theo nhu cầu và sở thích của từng cá nhân khai thác thông tin.

Nhờ tuân thủ các bộ tiêu chuẩn JSR 188 và J2ME nên JSPS cũng có thể cung cấp thông tin trên những thiết bị di động, cầm tay. Nhưng chính việc hỗ trợ quá nhiều loại hình cung cấp thông tin, chú trọng nhu cầu từng cá nhân làm cho thủ tục quản trị hệ thống, phân phối chức năng, thiết lập quy tắc cung cấp thông tin trải rộng lên toàn bộ hệ thống, vô hình chung khiến cho quy trình vận hành của hệ thống trở thành rối rắm.

Trong sản phẩm JSPS cũng được Sun tích hợp sẵn nhiều chương trình con đảm nhiệm chức năng giao tiếp với các hệ thống thông tin hiện có trên thị trường như Lotus Notes/Domino hay Microsoft mail và các chức năng làm việc nhóm như thảo luận nhóm (forum), tìm kiếm thông tin hay phát sinh bản tin điện tử theo yêu cầu… Nội dung thông tin cung cấp được trình bày dưới nhiều định dạng phong phú nhờ tuân thủ các tiêu chuẩn xây dựng nội dung trên J2EE như FatWire Content Server, Intergrated Search… 

Vignette Application Portal 7.0 phân quyền quản trị cho nhóm làm việc để tự quản lý các portal phục vụ cho chuyên môn riêng.

 

Việc giao tiếp giữa phần mềm portal với hệ thống cơ sở hạ tầng như hệ quản trị cơ sở dữ liệu, thư tín điện tử… do phần mềm của Sun đảm nhiệm, tuy nhiên nếu cần, người xây dựng hệ thống có thể sử dụng phần mềm do các công ty khác sản xuất.

Quá trình thử nghiệm cho thấy việc cài đặt và triển khai hệ thống hết sức dễ dàng nếu như người xây dựng đã có kiến thức về Java. Nếu trang bị thêm sản phẩm Sun Java Studio Creator thì ngay cả người ít kinh nghiệm cũng có thể xây dựng được các ứng dụng đơn giản chạy trên portal.

Đây là một trong những sản phẩm sử dụng công nghệ nhất quán nhất trong các sản phẩm đề cập trong bài viết này và là sản phẩm duy nhất hỗ trợ chuẩn Liberty Phase 2.

VIGNETTE APLICATION PORTAL 7.0 (VAP 7.0)

Là một sản phẩm dựa trên một loạt các tiêu chuẩn mở nên sản phẩm có thể dùng để xây dựng các ứng dụng chuyên dùng chạy trên portal hoặc có thể chạy trên hệ thống sử dụng nhiều hệ điều hành hay kiến trúc công nghệ khác nhau. Thao tác quản trị hệ thống đơn giản và hiệu quả, không cần người quản trị có kiến thức về máy tính nhiều lắm. Mọi thao tác quản trị hệ thống như bổ sung chức năng, gán quyền quản trị hệ thống để lập đề án xây dựng các portlet mới đều thực hiện trên một giao diện nhất quán và có kịch bản (wizard) hướng dẫn thao tác theo từng bước một.

Bộ phát triển ứng dụng Vignette Aplication Builder (VAB), một thành phần của bộ cài đặt cung cấp môi trường phát triển hệ thống. VAB cũng được tích hợp sẵn hơn 100 chương trình chức năng, nếu muốn người sử dụng có thể xây dựng được ngay một hệ thống portal nội bộ có các chức năng cơ bản như: Thảo luận nhóm, tìm kiếm, thư điện tử…

Vignette Aplication Portal nổi trội nhất ở chức năng quản trị hệ thống và hỗ trợ đa ngôn ngữ. Chỉ cần ngồi tại một vị trí, dùng chung một giao diện quản trị hệ thống thống nhất, người chủ trì hệ thống có thể phân loại và tiến hành cấp quyền hạn quản lý cho nhiều người khác nhau cùng tham gia quản trị hệ thống. Giao diện của màn hình quản trị hệ thống nhất quán và có thể chuyển đổi sang 144 ngôn ngữ khác nhau trên thế giới.

Một điểm nổi trội khác đó là kiến trúc 'multitenancy', kiến trúc này cho phép triển khai nhiều portal khác nhau trên một máy chủ thay vì trải rộng hệ thống của mình lên nhiều server khác nhau. Ưu điểm này cũng khẳng định năng lực của sản phẩm đối với các portal quy mô lớn và phức tạp.

Nhưng Vignette Application Portal hơi kém cỏi hơn các sản phẩm khác về khả năng cá thể hóa thông tin cung cấp cho từng người sử dụng một. Muốn khắc phục nhược điểm này, người quản trị hệ thống phải tự mình thực hiện thủ tục cấp hoặc thu hồi quyền truy cập từng portlet một cho từng người sử dụng. Còn nhìn chung các portlet hiện diện trong sản phẩm cũng ngang bằng với các sản phẩm khác trong bài viết này.

Vignette Application Portal hỗ trợ một loạt các ứng dụng hệ thống, hệ quản trị cơ sở dữ liệu, hệ điều hành khác nhau và cả sản phẩm ứng dụng của các hãng sản xuất phần mềm thứ ba.

Nhận xét, đánh giá

Các sản phẩm portal thử nghiệm trong bài này đều có những tính năng nổi trội và có những hạn chế của nó.

WebLogic Platform 8.1 của BEA nổi trội ở bộ công cụ phát triển ứng dụng là WebLogic Workshop. Sun Java System Portal Server nổi trội ở khâu sử dụng công nghệ thống nhất, tuân thủ đầy đủ tiêu chuẩn portal hiện hành, khai thác tốt cơ chế bảo mật của hệ thống và các thiết bị di động, nhưng phần mềm này đòi hỏi người phát triển hệ thống phải có kiến thức tốt về Java khi cài đặt và quản trị hệ thống.

Microsoft SharePoint Portal Server 2002 nổi trội ở ưu điểm cài đặt tốn ít thời gian nhất, có giao diện thân thiện, tích hợp tốt với bộ Outlook 2003. Tuy nhiên sự hỗ trợ tiêu chuẩn của phần mềm này yếu hơn các bộ phần mềm portal khác. OracleAS Portal 10g phát triển từ bộ cơ sở dữ liệu nổi tiếng của họ nên chức năng quản trị hệ thống hết sức tinh xảo và chặt chẽ.

Phần mềm Application Portal 7.0 của Vignette hỗ trợ cấu trúc J2EE rất tốt để xây dựng phần mềm cho máy chủ. Các tính năng quản trị, đóng gói và phân phối sản phẩm cũng rất xuất sắc. WebSphere Portal của IBM hoạt động được trên nền của nhiều hệ điều hành khác nhau và có hỗ trợ chuẩn JSR 168 về xây dựng ứng dụng máy chủ cho portal. Plumtree nổi trội hơn tất cả các sản phẩm còn lại về khả năng tích hợp với phần mềm ứng dụng của các hãng thứ ba, điều này hứa hẹn giảm chi phí giá thành triển khai portal và thời gian thu hồi vốn.

Cả 7 sản phẩm trong bài viết này chưa có sản phẩm nào hoàn toàn vượt trội, trên thực tế đã có rất nhiều portal được xây dựng bằng phương thức sử dụng phối hợp nhiều sản phẩm portal để khai thác được những ưu điểm nổi trội của từng sản phẩm (xem thêm phần 'Tiêu chuẩn của một portal quy mô xí nghiệp'). 

Tiêu chuẩn đặc trưng cho PORTLET

Hiện nay đang tồn tại đồng thời hai bộ tiêu chuẩn (Java Community Process' JSR (Java Specification Request) 168 và OASIS's WSRP (Web Service for Remote Portlets)) xây dựng ứng dụng chạy trên máy chủ portal. Hai tiêu chuẩn này giúp cho việc xây dựng ứng dụng chạy trên máy chủ portal hoàn toàn độc lập với hệ thống portal. Lợi ích của việc làm này là hệ thống portal trở nên uyển chuyển và dễ dàng nâng cấp, thay đổi môi trường hoạt động. Người phát triển ứng dụng không quá lệ thuộc vào kiến trúc hạ tầng của hệ thống portal. Nhưng do sự khác nhau giữa hai tiêu chuẩn này không rõ ràng, chúng cũng không bổ sung khiếm khuyết của nhau, được cái này thì mất cái kia, nên rất khó quyết định tiêu chuẩn nào là phù hợp hơn.

 

 

CHỌN GIẢI PHÁP MÃ NGUỒN MỞ

 

 

 

Ưu điểm
* Miễn phí.
* Nhận được sự hỗ trợ vô tư của cộng đồng mã nguồn mơ.
* Có thể chỉnh sửa mã nguồn để tạo thêm các chức năng mới.
* Chạy được trên nhiều môi trường khác nhau.
Hạn chế
* Khả năng tích hợp với các sản phẩm thương mại thấp.
* Khó xác định nơi hỗ trợ sản phẩm và không có ngay khi cần đến.
* Tính năng không phong phú bằng các sản phẩm thương mại.
* Tự do chỉnh sửa mã nguồn đôi khi làm cho sản phẩm không tương thích với các tiêu chuẩn chung của một portal.

 

Chuẩn WRSP quy định cách thức trao đổi giữa portlet với máy chủ portal là thông tin dưới dạng XML do các ứng dụng web chạy ở mức độ dịch vụ (web service) làm trung gian thực hiện trao đổi. Chuẩn WRSP làm cho một portlet hoàn toàn độc lập với kiến trúc hạ tầng của hệ thống, một ứng dụng tuân thủ tiêu chuẩn J2EE trao đổi thông tin được với một máy chủ portal nào đó xây dựng trên kiến trúc hạ tầng .Net của Microsoft nhờ vào trung gian là hệ thống ứng dụng web chạy ở mức dịch vụ đã tuân thủ chuẩn WRSP. WRSP cũng tạo thuận lợi để phát triển mở rộng cấu trúc thông tin trao đổi giữa portlet với máy chủ. Ví dụ như sau khi biết được cấu trúc XML mà portal dùng để trao đổi thông tin với các portlet, người ta có thể mở rộng thêm các cấu trúc thông tin XML mới cho portlet đang xây dựng. Nhưng điều gì đảm bảo là các portal khác có thể hiểu được thông tin do portlet mới xây dựng này cung cấp.

Khuyết điểm trên của WRSP lại chính là ưu điểm của chuẩn JSR 168. Portlet tuân thủ chuẩn JSR 168 là các portlet được xây dựng trên J2EE và có thêm phần mở rộng là Java servlet API.

Như vậy, việc quyết định chuẩn nào cũng như việc chọn lựa bộ phần mềm portal nào hoàn toàn phụ thuộc vào mục đích xây dựng portal của tổ chức hay doanh nghiệp.

Giải pháp PORTAL dựa trên nền mã nguồn mở

Không phải mọi portal có quy mô xí nghiệp đều phải xây dựng từ những bộ phần mềm thương mại, mặc dầu khi chọn sử dụng các bộ phần mềm thương mại thì người sử dụng có đủ mọi công cụ và chức năng cần thiết, nhận được sự hỗ trợ đầy đủ nhất từ phía công ty sản xuất phần mềm. Chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng được các portal dựa trên các phần mềm mã nguồn mở.

Metadot là một phần mềm xây dựng portal mã nguồn mở, phân phối theo tiêu chuẩn GNU. Metadot được thiết kế trên mô hình LAMP (Linux, Apache, MySQL, PHP/Python/Perl) hoạt động trên nền của hệ điều hành Linux, thành phần bao gồm Apache Web server, cơ sở dữ liệu MySQL và ngôn ngữ lập trình Perl. Nhưng vì Perl có thể chạy trên nền hệ điều hành Solaris, Windows và ta có thể thay thế cơ sở dữ liệu MySQL bằng Oracle, nên hoàn toàn có thể dùng Metadot để xây dựng portal trên nền các hệ điều hành khác.

 

Vấn đề cổng thông tin đã được đề cập trên TGVT series A 10/1999, tr. 75 và gần đây là trên series B với những bài như:
- 'Cổng thông tin tích hợp' (TGVT series B, 01/2004, tr. 25), giới thiệu 2 giải pháp Portal điển hình của công ty VietSoftware và công ty Tinh Vân đang được ứng dụng tại Hanoi Portal và Hochiminh CityWeb.

- 'Đứng trước các Portal - Suy ngẫm về một giải pháp' (TGVT series B, 03/2004, tr. 29).
Hiện nay các công ty Việt Nam cũng như nước ngoài cung cấp sản phẩm này khá phong phú, bạn có thể tham khảo một số sản phẩm và công ty sau:

1/ 3C (www.3c.com.vn) với sản phẩm 3C_SmartPortal
2/ GoodLand (www.goodland.com.vn)
3/ IT Solution (www.itsolution2b.com)
4/ PT-Software Co (pt-software.com)
5/ Tinh vân (www.tinhvan.com) với sản phẩm TVIS
6/ TRG International (www.trginternational.com.vn)
7/ VietSoftware (www.vietsoftware.com) với sản phẩm VPortal
8/ Vinacomm Portal (vinacomm.com.vn) với sản phẩm iCMS, DTT Portal

 

Metadot phiên bản 6 có nhiều chức năng chuyên nghiệp như: Cơ chế sử dụng mật khẩu và kiểm soát sự thay đổi nội dung, lần phát hành văn bản khi nạp lên hệ thống hay tải về sử dụng; Thông điệp trao đổi giữa người sử dụng trong portal thuộc loại có thể trình bày được; Khả năng xây dựng nhóm thảo luận để mọi người trong nhóm cùng trao đổi thảo luận công việc; Khả năng triển khai cơ chế bảo mật LDAP để quản trị người sử dụng; Xuất nhập dữ liệu bằng công nghệ XML. Phiên bản này cũng cung cấp các API để xây dựng các chức năng mới cho portal khi cần thiết.

hược điểm của Metadot là chưa có công cụ thiết kế mạnh tích hợp trong sản phẩm, chưa hỗ trợ đầy đủ để portal có thể đưa ra được các trang màn hình có trộn lẫn hình ảnh, bảng biểu và đồ thị vào trong văn bản. Metadot cũng chưa tương thích với các tiêu chuẩn mới về xây dựng ứng dụng trên portal như JSR168 hay WSRP. Vì vậy sản phẩm này thích hợp cho portal của các tổ chức nhỏ.

Gluecode Advanced Server cũng là phần mềm portal mã nguồn mở viết bằng Java và sử dụng công nghệ Jetspeed, công nghệ Java/XML nằm trong dự án Jakarta của Apache Software Foundation. Phần mềm này được tích hợp nhiều công nghệ hiện đại như các sản phẩm portal thương mại khác như: Công nghệ XML, nội dung được quản trị và dịch vụ web, tương thích tiêu chuẩn WSRP.

 

 

ĐẶC TÍNH CƠ BẢN CỦA TỪNG PORTAL

 

 

 

Mặc dầu có cùng một chức năng nhưng sản phẩm của từng công ty phần mềm lại đi theo các hướng khác nhau. Trong khi sản phẩm portal của IBM, Microsoft lấy yêu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh làm tiêu chí thực hiện thì Plumtree và Sun lại chọn khả năng hỗ trợ tiêu chuẩn làm tiêu chí của mình.

 

Gluecode Advanced Server chạy trên cả hai môi trường hệ điều hành Red Hat Linux và Windows, tích hợp với web server Apache 1.3. Nếu muốn, người sử dụng có thể cấu hình phần mềm này để các ứng dụng xây dựng theo môi trường Java J2EE 1.4 và JDBC hoạt động. Các tính năng nổi trội của Gluecode Advanced Server bao gồm: Chức năng tạo chỉ mục, cả loại văn bản dạng PDF lẫn Office; Có hỗ trợ chế độ bảo mật theo cơ chế ACL hay LDAP; Ngoài ra cũng có cơ chế để giao tiếp với ứng dụng Microsoft Exchange Server.

Mặc dầu cả hai sản phẩm mã nguồn mở nêu trên chưa được sự chấp nhận rộng rãi và có hỗ trợ của các công ty phát triển phần mềm, nhưng hai sản phẩm này đáng được chú ý nếu như bạn muốn phát triển portal theo mô hình mã nguồn mở.

(Theo PCWorld VN/InfoWorld)

No comments: