Tuesday, March 11, 2008

47 quỷ kế của Quỷ Cốc Tử

47 quỷ kế của Quỷ Cốc Tử

 

  1. Trong nhu có cương, trong cương có nhu
  2. Tuyệt đối bí mật
  3. Co để duỗi
  4. Trước đánh sau bắt
  5. Lấy giả làm thật
  6. Ném đá hỏi đường
  7. Lấy tính chế động
  8. Giả ngu nhưng không điên
  9. Người tài của Tấn dùng ở Sở
  10. Bí quyết hiến kế
  11. Tuỳ lòng ham muốnL
  12. àm cho đối phương nghi ngờ nhau
  13. Kẻ hở giữa hư và thực
  14. Sắc đẹp phụ nữ nguy hiểm như dao kiếm
  15. Biết trước thời thế
  16. Kín kẽ, chu đáo
  17. Biến không thành có
  18. Nụ cười dấu đao kiếm
  19. Không tiến thì thối
  20. Một mũi tên trúng năm con chim
  21. Thiên mệnh ràng buộc
  22. Mưu kế không thể lửng lơ
  23. Thẩm định thời cơ, đo lường thế lực
  24. Xuất đầu lộ diện
  25. Liệu địch như thần
  26. Quanh co, khuất lấp
  27. Không đánh mà thắng
  28. Không cự mà tuyệt
  29. Thả mồi sâu, câu cá lớn
  30. Kiêu mưa gọi gió
  31. Lấy ngu thắng trí
  32. Không ngại nói thẳng
  33. Nói mãi phải tin
  34. Chính không bằng kì
  35. Khống chế địch trước
  36. Mức độ thân sơ
  37. Xa bang giao, gần tiến đánh
  38. Giải mối nghi ngờ
  39. Đã quyết thì không nên thay đổi
  40. Quyết đoán then chốt
  41. Có thưởng có phạt
  42. Gương sang thường soi
  43. Trời, đất và người
  44. Giải cứu hiềm nghi
  45. Trước lễ sau binh
  46. Sự hưng suy qua lễ nhạc
  47. Chết để sau sống

 

LỜI NÓI ĐẦU :


QUỶ CỐC TỬ là tên của 1 nhân vật kỳ lạ, đồng thời là tên 1 cuốn sách lạ kỳ nhất xưa nay trong lịch sử TRUNG QUỐC. Gọi là Thiên cổ kỳ nhân. Thiên cổ kỳ thư.

QUỶ CỐC TỬ là nhân vật kỳ lạ ! Tên tuổi, thân thế, hành tung của QUỶ CỐC được bao phủ bởi những truyền thuyết đậm sắc thần thoại, hư ảo. Ông là 1 người đa tài, môn gì cũng hay, đứng đầu nhiều môn học thuật : Âm Dương gia, Tung Hoành gia; 1 nhà thần toán giang hồ; 1 chính trị gia lỗi lạc, lục thao tam lược gồm tài & cũng là 1 Thần Y nổi tiếng. Ông có 4 đệ tử nổi danh kim cổ : Võ là TÔN TẪN, BÀNG QUYÊN ; Văn là TÔ TẦN,TRƯƠNG NGHI đã tung hoành ngang dọc, tham dự cuộc tranh hùng dữ dội của 7 nước thời Chiến quốc.

QUỶ CỐC TỬ là 1 cuốn sách kỳ lạ ! Chứa đầy mưu kế kỳ lạ, quỷ khốc thần kinh, dành cho các bậc đế vương tu thân, cai trị đất nước 1 cách thông minh. Các biện sĩ, kỳ sĩ, mưu sĩ thuyết phục thiên hạ để tiến thân. Các nhà quân sự, tướng lĩnh quyết thắng trên chiến trường. Những người lãnh đạo thành công trong việc hiểu người ,dùng người để gây dựng sự nghiệp. Những người bình thường dùng để phòng thân, sắp xếp việc nhà, đối nhân xử thế & làm ăn, buôn bán, kinh doanh

Có trăm mưu ngàn kế nhưng cuốn sách này quy về 1 lý là đánh vào lòng người, có người gọi mưu kế là Tâm thuật đấu pháp, là dùng mưu kế chống lại 36 mưu kế lưu hành xưa nay trong thiên hạ. Trải qua 2000 năm, cuốn sách đã được nhiều học giả chuyên tâm chú giải, trong đó có 4 người nổi tiếng là :
NHẠC PHONG, HOÀNG PHỦ THỤY, DOÃN TRI CHƯƠNG & ĐÀO HOẰNG CẢNH. QUỶ CỐC TỬ và cuốn sách của ông đã gây nhiều tranh luận sôi nổi bất tận của nhiều nhà nghiên cứu xưa và nay. Đại văn hào LIỄU TÔNG NGUYÊN cũng rất hăng hái nhập cuộc. Đại thi hào LÝ BẠCH ngày xưa cũng từng làm thơ ca ngợi TÔ TẦN đệ tử của QUỶ CỐC.

Gần đây, 1 nhà xuất bản TRUNG QUỐC đã chọn lọc, hệ thống các công trình nghiên cứu thành sách gọi là QUỶ CỐC TỬ toàn thư. Cuốn sách đã nêu ra 47 mưu kế, khai thác trong sách của QUỶ CỐC, áp dụng thành công trong nhiều lĩnh vực. Mỗi mưu kế có dẫn chứng, minh họa bằng nhũng tiểu truyện hấp dẫn, thú vị trong các tác phẩm nổi tiếng như Sử ký TƯ MÃ THIÊN, Tả truyện, Chiến Quốc sách, Đông Châu Liệt quốc, Tam Quốc chí.....



QUỶ CỐC TỬ

con người kỳ lạ nhất xưa nay

 


1. Kỳ lạ là tên ông được nhiều sách vở nhắc đến nhưng rất ngắn gọn, nhiều giả thiết thú vị


Nhiều cuốn sách như : Sử ký, Tô Tần liệt truyện, Trương Nghi liệt truyện, Phong tục thông nghĩa...đều đề cập đến tên QUỶ CỐC , nhung rất ngắn gọn.

VD : Tô Tần người Lạc Dương học với QUỶ CỐC hoặc Trương Nghi người nước Ngụy cùng với Tô Tần học với QUỶ CỐC

Tên QUỶ CỐC cũng được các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều giả thiết :

Theo Dông Châu Liệt Quốc, QUỶ CỐC là tên của cái hang ở đất Dương Thành thược địa phận nhà Chu. Chỗ
ấy núi cao rừng rậm, âm khí nặng nề, không có người ở. Trong núi ấy có người ẩn sĩ đặt hiệu cho mình là QUỶ CỐC.

Theo Hán thư nghệ văn chí, chữ QUỶ được giải thích : Quỷ là u hiển, u là ẩn, hiển là lộ.

Có sách giải thích là QUY, dựa vào câu QUỶ CỐC trả lời TRƯƠNG NGHI & TÔ TẦN : Ngô tử vu sơn cốc. Thế luận vị dư QUY CỐC dã.

Theo truyền thuyết dân gian, mẹ của QUỶ CỐC ăn nhằm thức ăn đựng trong cái chén làm bằng xương quỷ nên gọi là QUỶ CỐT

Thường thì người ta gọi ông là QUỶ CỐC TỬ. TỬ là thầy, chữ này xuất hiện đời Tần, tỏ ý kính trọng.

Có thuyết thì nêu danh tính đầy đủ hơn 1 chút : QUỶ CỐC TỬ là 1 tung hoành gia thời đại Chiến Quốc. Ông họ VƯƠNG, tên HỦ, tự là DANH LỢI, dân gian gọi là VƯƠNG THIỀN lão tổ

Hầu như nhiều nhà nghiên cứu đồng ý với thuyết này và thường dùng để dẫn khi viết về QUỶ CỐC.


2. Thân thế QUỶ CỐC có nhiều truyền thuyết , đậm màu sắc thần thoại
Truyền thuyết dân gian cho rằng, mẹ QUỶ CỐC ăn nhằm thức ăn đựng trong cái bát bằng xương quỷ, thụ thai và mang thai đến....3 năm 6 tháng mới sinh ra ông (?! ). Bà mẹ sinh xong thì mất, ông được con cọp già cho bú mớm nuôi nấng. Ngày đêm theo cọp đi kiếm ăn nên rất tinh ma quỷ quái, chuyên dạy cho người ăn nói khoa trương và mưu kế.

Ban đầu ông không biết chữ nhưng đã sáng tạo ra được 60 Giáp Tý để đoán vận mệnh và thuật bói toán,gọi là Vô tự đại thư, quyển sách lớn không chữ.
Nên người đời rất khâm phục gọi ông là QUỷ CỐC thần sinh.

PHÙNG MỘNG LONG, tác giả Đông Châu Liệt Quốc cho rằng : QUỶ CỐC tiên sinh là 1 ẩn sĩ thông hiểu mọi lẽ trong trời đất, có mấy môn học vấn không mấy người theo kịp. Đó là :

_Số Học , nhật nguyệt tượng vĩ đều thu ở bàn tay, xem việc trước, đoán việc sau nói gì cũng linh nghiệm.

_Binh học , lục thao tam lược biến hóa vô cùng, bày trận hành binh, quỷ thần không biết.

_Du thuyết học, nhớ rộng nghe nhiều, hiểu rõ lý thế, buông lời hùng biện, muôn miệng khôn đương.

_Xuất Thế Học, giữ toàn chân tính, luyện thuốc nuôi mình, không ốm không chết, đắc đạo thành Tiên.

Có thuyết cho rằng QUỶ CỐC là bạn thân của MẶC ĐỊCH, 1 lý thuyết gia của chủ nghĩa kiêm ái, tức là yêu thương tất cả mọi người

QUỶ CỐC cũng từng gặp LÃO TỬ, người đời tôn là Thái Thượng Lão Quân, ở Hàm Cốc.


3.Sinh ở thời đại cá lớn nuốt cá bé quyết liệt

Các nhà nghiên cứu xác định QUỶ CỐC sống trong khoảng cuối thời Xuân Thu Chiến Quốc và đầu Chiến Quốc thời đại

_Xuân Thu thời đại ( 770-476 trước CN ) : thời kỳ nhà Chu suy yếu , các chư hầu , các địa phương cát cứ mỗi nơi. Lúc này có khoảng 140 nước. Các nước lớn thôn tính dần các nước nhỏ.

_Chiến Quốc thời đại ( 475-221 trước CN ) : thời kỳ chỉ còn 7 nước, ba nước mới thành lập là : Hàn, Ngụy, Triệu ; bốn nước cũ là Tần, tề, Sở và Yên.

Ngay thống kê trên cũng đủ thấy 1 thời đại nhiễu nhương, chiến tranh ác liệt, cá lốn nuốt cá bé, trên 100 nước nhỏ bị tiêu diệt, còn lại 7 nước tranh hùng, để rồi còn 1 nước. Đó là nước Tần.



4.Có bốn đệ tử lớn tung hoành ngang dọc một thời
Cũng theo truyền thuyết, QUỶ CỐC đã thu nhận rất nhiều học trò. Học trò rất đông, ai đến học thì học,ai muốn bỏ đi thì bỏ đi. Tùy theo tư chất từng người để dạy, ai muốn học thuật gì thì truyền thụ thuật ấy.

Chắc vì thế, những học trò sau khi xuống núi hành nghề, truyền đạo, viết sách, phong ông làm Tổ sư hoặc là người sáng lập ra các học phái : Âm Dương gia, Tung Hoành gia, Chính trị gia, Du Thuyết gia

Trong số học trò của QUỶ CỐC có 4 người nổi tiếng là TÔN TẪN , người nước TỀ ; BÀNG QUYÊN, TRƯƠNG NGHI ,người nước NGỤY ; TÔ TẦN , người LẠC DƯƠNG.

TÔN TẪN, BÀNG QUYÊN học binh pháp. TRƯƠNG NGHI , TÔ TẦN học nghề Du thuyết. So sức học thì TÔN TẪN giỏi hơn BÀNG QUYÊN ; TÔ TẦN tự cho sức học của mình không bằng TRƯƠNG NGHI.

_ BÀNG QUYÊN được cử làm nguyên soái nước NGỤY, lấn các nước nhỏ như Vệ , Tống, đánh bại được quân Tề. Vua các nước Tống, Lỗ, Trịnh, Vệ thường phải đến chầu vua nước NGỤY

Xét cho cùng BÀNG QUYÊN là người tài giỏi nhưng vì ghen tài trở nên độc ác, chặt chân đày ải TÔN TẪN.
Lập được công lao sinh chủ quan, cho mình là thiên hạ vô địch nên bị bại dưới tay TÔN TẪN.

_TÔN TẪN , sau khi thoát nạn BÀNG QUYÊN, theo ĐIỀN KỴ, nước TỀ. TÔN TẪN giúp TỀ UY VƯƠNG đánh NGỤY để cứu TRIỆU, giết chết BÀNG QUYÊN ở Mả Lăng, buộc nước NGỤY phải thần phục nước TỀ.

_TÔ TẦN , được ca ngợi là 1 mưu lược gia bậc nhất về hợp tung của thời Chiến Quốc. TÔ TẦN không ngại xa xôi đến xin học QUỶ CỐC. Học xong, TÔ TẦN đã đến các nước CHÂU, TẦN, TRIỆU...nhưng không được dùng.

Đành phải quay về, quần áo rách bươm, người tiều tụy xơ xác. Thấy vậy vợ không thèm chào, chị dâu không nấu cơm cho ăn.

TÔ TẦN phải đem sách của QUỶ CỐC ra học, lấy dùi đâm vế để khỏi ngủ gật, thêm 1 năm nữa. Sau đó, lên đường đến nước YÊN. Theo sử sách nước YÊN là 1 nước yếu nhất giửa các cường quốc. TÔ TẦN được vua YÊN tin dùng , và đề xướng thuyết hợp tung, liên kết 6 nước ( TỀ, SỞ, TRIỆU, HÀN, NGỤY và YÊN ) để chống TẦN. Bấy giờ TÔ TẦN làm Tướng quốc 3 nước YÊN-TRIỆU-TỀ. Tên tuổi TÔ TẦN nổi danh khắp chư hầu. Tài hùng biện của TÔ TẦN như nước chảy có thể làm đổ cả thành cao ngàn trượng, làm gãy cả địa thế xung yếu dài hàng trăm xích

_
TRƯƠNG NGHI , cũng học với QUỶ CỐC. sau khi xuống núi đi du thuyết chư hầu. Có lần TRƯƠNG NGHI uống rượu với Tướng Quốc nước SỞ, bị nghi ngờ trộm ngọc. Bọn thuộc hạ của Tướng Quốc đánh cho 1 trận la lết, TRƯƠNG NGHI không nhận tội. Về đến nhà , vợ chì chiết vì do học du thuyết mà mang họa vào thân. TRƯƠNG NGHI chỉ hỏi lưỡi mình còn không. Vợ tức cười, đáp còn. TRƯƠNG NGHI nói : Thế là đủ !
Chứng tỏ ông tin vào miệng lưỡi và tài hùng biện của mình như thế nào !

TRƯƠNG NGHI đến cầu cạnh TÔ TẦN , bị TÔ TẦN lừa, buộc phải vào TẦN dùng thuyết liên hoành để thuyết TẦN HUỆ VƯƠNG , và ông được tin dùng. TRƯƠNG NGHI góp phần giúp nước TẦN cường thịnh, mở mang đất đai, làm cho nước SỞ suy yếu, dọn đường cho việc thống nhất TRUNG QUỐC.

TÔN TẪN, BÀNG QUYÊN, TÔ TẦN, TRƯƠNG NGHI được xem là tứ đại đệ tử của QUỶ CỐC. Bốn người đã từng làm mưa làm gió trong 1 thời Chiến Quốc.


QUỶ CỐC TỬ

Cuốn sách lạ kỳ xưa nay

 

 

 

1.QUỶ CỐC TỬ, 1 cuốn sách giáo khoa đặc sắc của nhiều môn học

_Về tâm lý, sách cho rằng dù trăm phương ngàn kế cũng đều qui về tâm lý con người, đánh vào trúng tâm lý, sở thích, dục vọng của con người thì thành công.
Vd : người giàu có thì thích địa vị . Kẻ dũng cảm , cương cường dọa dẫm họ là điều vô nghĩa, khích bác họ thì mới thành công. Người uyên bác thích lý luận, nói nhiều....kẻ trí tuệ thấp thì hay bị lừa. Kẻ bần cùng thì dễ bị mê hoặc bởi lợi lộc.......

_Về ngôn ngữ, nghe người ta nói có thể hiểu được sự buồn, vui, giận, ghét của người đối thoại. Nghe âm thanh, ngôn ngữ âm nhạc, có thể biết được nhân cách của người sáng tạo và sự hưng suy của 1 nước.

_Về hùng biện, nếu sử dụng thành thạo, xảo diệu thuật đóng mở( bãi hạp ) thì không chỉ thuyết phục được người 1 nước mà còn thuyết phục được cả thiên hạ.

_Về quân sự, thì chính binh không bằng kỳ binh. Phải chế ngự được kẻ thù, phải ra tay trước. Lấy tám lạng đè bẹp được ngàn cân. Có khi không cần đánh mà thắng. Lợi dụng địa hình để đánh địch. Dùng vàng bạc để làm tan rã hàng ngũ địch. Cắt lực lượng địch, phân tán địch, làm cho địch mỏi mệt, dũng khí địch tiêu tan.



2.Cuốn sách lắm mưu nhiều kế

Cái kỳ lạ nhất của cuốn sách QUỶ CỐC TỬ là chứa lắm mưu nhiều kế, quỷ khốc thần kinh, thiên biến vạn hóa & dùng mãi không hết.

Thông thường người ta xa lánh những người mưu kế thủ đoạn. Các từ ngữ mưu kế, thủ đoạn bị lên án, ngộ nhận vì do những kẻ ác tâm, gọi là lang hổ chi tâm, lòng lang dạ sói, thi hành để đạt mục đích xấu. Vậy mưu kế là gì?

Thực chất mưu kế, thủ đoạn, kế hoạch sản sinh từ đời sống thực tiễn của con người :

Một người thợ săn mướn bẫy thú phải đánh động, gõ vào vật liệu gì đó, đá chẳng hạn, để thú hoảng sợ chạy ra và tóm lấy. Đó là kế Đầu thạch vấn lộ.

Cây gãy vì côn trùng đục khoét, bức tường đổ là do rạn nứt lâu ngày. Đó là nguyên tắc của sách hư khích, kẻ hở ; sản sinh ra kế ly gián, phản gián. Con hổ trước khi vồ mồi thì thu mình lại để lấy thế và nhảy ra. Đó là kế Dĩ khuất cầu thân, co để duỗi.

Con thỏ thấy hổ quá mạnh, co chân chạy. Là kế Bất tiến nhi thối, không tiến thì lùi. Chạy để bảo toàn tính mạng là thượng sách !

Thực tế, có căm ghét mưu kế cũng không thể bỏ được.Vì sao?

Vì nguồn gốc của mưu kế sản sinh từ đời sống, do đó, người ta căm ghét xa lánh nó cũng không thể được, nó vẫn tồn tại 1 cách khách quan trong cuộc sống hàng ngày.Nhiều mưu kế trở thành bản năng, phản ứng tự nhiên, mà đôi khi người ta cũng không nghĩ đó là mưu kế nữa.

Một chàng trai muốn tán tỉnh 1 cô gái, hé mở cho cô ta biết mình là con nhà gia thế, thông minh học giỏi, sẽ chung tình trước sau như một > Tức là anh chàng đang sử dụng 1 lúc 2 thủ đoạn : Bãi hạp (úp úp mở mở ) và Hư trương thanh thế ( phô trương ).

Muốn giúp 1 người sa cơ lỡ vận có công ăn việc làm, bạn đã giới thiệu với người khác là người này rất tài giỏi, trung thành, tận tâm. Tức là bạn đang sử dụng chiêu Vô trung sinh hữu ( từ không thành có ).

Bạn không thích nghe tiết mục quảng cáo nhưng vẫn thuộc lòng lời giới thiệu 1 cách rành rẽ. Bạn đang vướng vào kế Chúng khẩu luyện kim (nói mãi phải tin ) của các nhà kinh doanh.

........Bạn không thích mưu kế nhưng bạn cũng phải dùng. Không ưa nhưng cũng phải ứng phó. Không muốn nhưng vẫn bị vây bởi giữa muôn trùng mưu kế.


3.Cuốn sách chứa vạn tâm linh và chìa khóa vàng
_ Đáng quý là cái tâm của tác giả đối với nhân dân.

Tác giả khuyên các Vua chúa phải dùng con mắt của nhân dân ( thiên hạ ) để nhìn, dùng tai của nhân dân để nghe, lấy cái tâm của mình để che chở cho nhân dân và lấy cái tâm của nhân dân để mưu cầu hạnh phúc cho mọi người. Mắt như vậy được gọi làthie6n lý nhãn. Tai như vậy gọi là thuận phong nhĩ. Tâm được như vậy gọi là vạn linh tâm.

Chứng tỏ tác giả rất khổ công và dùng cả cái tâm của mình để viết sách, gửi gắm ước mơ vào từng trang sách.Đó là mong nhân dân được hạnh phúc, no ấm và được giáo hóa thành những người văn minh.

_ Cái quý nữa là luôn cầu tiến bộ.

Sách của QUỶ CỐC TỬ cho rằng phản là hiểu quá khứ , ứng là hiểu hiện tại. Có biết quá khứ mới hiểu hiện
tại, có hiểu hiện tại mới biết tương lai. Cái gì không còn thích hợp thì bỏ, cái gì còn thích hợp thì gìn giữ và áp dụng.

Hiểu mình là trí, hiểu người là sáng suốt. Có sáng suốt mới có trí, có trí mới có sự sáng suốt.

Ôn cố tri tân
, ôn cũ biết mới ; tri kỷ tri bĩ, biết người biết ta ; đấy là chìa khóa vàng mở cánh cửa đời sống của người thông minh.








Chương 1 : THUẬT MỞ ĐÓNG



(BÃI HẠP CHI THUẬT )



Bãi là mở, hạp là đóng.
Thuật bãi hạp là thuật đóng mở, mở đóng, đóng mở.....Bãi là hành động tích cực.
Hạp là hành động tiêu cực.

Thuật bãi hạp căn bản dưa trên nguyên lý Âm Dương. 2 khí này là chủ tể của vạn vật, có khi khí Âm mạnh, có khi khi Dương mạnh; có khi mềm yếu, nhu nhược, có lúc cứng rắn, cương cường; có khi bộc lộ, khai mở, có lúc ẩn tàng, che dấu; có khi nhanh chóng, khẩn trương, có lúc chậm chạp, ung dung....

Dương khí truy cầu Âm khí và Âm khí truy cầu Dương khí. Âm khí phát triển đến cực điểm thì thành Dương khí. Dương khí phát triển cực điểm thì phát triển thành Âm khí.

Khi gặp Dương khí (thời cơ, thuận lợi ) thì tiến lên ; gặp Âm khí 9ba6t1 lợi ) thì thu tàng, ẩn dấu, ngưng
lại.

Thuật bãi hạp được thực hiện qua 4 kế :

_Cương nhu tương tế nghĩa là Trong nhu có cương, trong cương có nhu.

_Sơ nhi bất lậu ............ Tuyệt đối bí mật.

_Dĩ khuất cầu thân ........... co để duỗi.

_Tiên đả hậu ma ........... Trước đánh sau bắt.



1/CƯƠNG NHU TƯƠNG TẾ : TRONG NHU CÓ CƯƠNG, TRONG CƯƠNG CÓ NHU

Cương nhu tương tế là trong cương có nhu, trong nhu có cương. Trong dương có âm, trong âm có dương.
Đóng mở, mở đóng...biến hóa vô cùng.

Muốn thực hiện kế này phải thẩm định đối phương : Có hay không, hư hay thực, lợi và hại trước sau. Hiểu
rõ ý chí của đối phương, tùy tâm lý, dục vọng của đối phương mà thuyết phục.

Thí dụ : Ưa nói khích không ưa thuyết phục


Sau khi Tào Tháo lấy được Kinh Châu , TUÂN DU hiến kế là huy động đại quân ra oai để làm cho TÔN QUYỀN sợ phải đầu hàng.

THÁO nghe theo kế, lập tức hịch sai sứ sang Giang Đông, 1 mặt điểm quân mã,quân bộ và quân thủy,cả thảy 83 vạn, lại nói thăng lên những 100 vạn quân. Thủy lục đều tiến, quân thuyền quân kỵ cùng đi ; theo dọc bờ sông Trường Giang kéo đến. Phía Tây nối liền với đất Kinh Giáp,phía Đông tiếp giáp Kỳ Hoàng,doanh trại nối nhau dài hơn 300 dặm.

* * *


Nói về Giang đông, TÔN QUYỀN đang đóng quân ở Sài Tang, được tin đại quân TÀO THÁO đến Tương Dương.
LƯU TÔN đã ra hàng, mà quân TÀO sớm khuya đi gấp đường lấy Giang Lăng. QUYỀN bèn họp các mưu sĩ lại bàn kế phòng thủ.

LỖ TÚC nói :
_Kinh châu tiếp giáp nước ta,giang sơn hiểm trở,nhân dân giàu có, nếu chiếm được đất ấy thì đủ để xây nghiệp đế vương. Nay LƯU BIỂU mới chết, LƯU BỊ mới thua, tôi xin phụng mạng sang Giang Hạ viếng tang, nhân tiện bảo LƯU BỊ phủ dụ các tướng của LƯU BIỂU, đồng tâm hiệp lực với ta để phá TÀO THÁO, nếu BỊ vui lòng nghe theo thì việc lớn phải xong.

QUYỀN đồng ý, lập tức sai LỖ TÚC đem lễ vật sang Giang Hạ viếng tang.
* * *

HUYỀN ĐỨC đến GIANG HẠ cùng KHỔNG MINH và LƯU KỲ bàn việc.
KHỔNG MINH nói :
_TÀO THÁO thế to lắm,khó lòng địch nổi,không bằng ta sang nhờ TÔN QUYỀN ở Giang Đông làm ứng viện.Nam Bắc giữ miếng với nhau, ta ở giửa kiếm lợi, có gì mà chẳng được.
HUYỀN ĐỨC nói :
_Giang đông lắm mưu thần giỏi, nhìn xa thấy rộng, sao họ chịu dung nạp ta?
KHỔNG MINH cười đáp rằng :
_Nay TÀO THÁO dàn quân trăm vạn, chiếm cứ Giang Hán; tất nhiên Giang Đông phải cho người lại đây dò hư thực thế nào.Nhược bằng có sứ đến,tôi xin mượn 1 cánh buồm thuận gió đến thẳng Giang đông chỉ 3 tấc lưỡi làm cho 2 quân Nam Bắc thôn tính lẫn nhau. Nếu quân Nam được ta cùng đánh TÀO THÁO, lấy đất Kinh Châu.Nếu quân Bắc được , ta thừa thế tính lấy Giang Nam cũng nên.
HUYỀN ĐỨC nói :
_Kế ấy rất hay, nhưng làm thế nào khiến cho Giang Đông sai người đến đây được?
Vừa nói dứt lời, có tin báo rằng :
_TÔN QUYỀN ở Giang Đông sai người lại viếng tang, thuyền đã ghé bờ.
KHỔNG MINH cười nói :
_Việc to chắc xong.
 

Biết LỖ TÚC sắp đến KHỔNG MINH dặn HUYỀN ĐỨC rằng :
_Hễ LỖ TÚC hỏi việc động tĩnh của TÀO THÁO thì Chúa công nói 1 mực không biết. Hễ nói đến 2-3 lần thì Chúa công bảo hắn hỏi GIA CÁT LƯỢNG.
Bàn định xong xuơi bèn sai người đón LỖ TÚC vào. TÚC vào viếng tang xong, LƯU KỲ nhận đồ phúng rồi mời TÚC đến gặp HUYỀN ĐỨC. HUYỀN ĐỨC rước vào nhà trong uống rượu. TÚC nói :
_Lâu nay, nghe thấy đại danh Hoàng Thúc nhưng chưa có dịp nào được bái kiến, nay được gặp thực là hân hạnh.

Mới đây Hoàng Thúc đánh nhau với TÀO THÁO, tất biết rõ tình hình. Dám hỏi quân TÀO THÁO ước độ bao nhiêu?
HUYỀN ĐỨC đáp :
_Tôi binh mọn tướng ít, THÁO đến là chạy, có biết gì đến tình hình bên ấy thế nào.
TÚC nói :
_Tôi nghe Hoàng Thúc dùng mưu của KHỔNG MINH 2 phen đánh hỏa công làm cho TÀO THÁO kinh hồn lạc phách , sao Hoàng Thúc lại bảo là không biết?
HUYỀN ĐỨC nói ;
_Họa chăng hỏi KHỔNG MINH thì biết đươc rõ.
TÚC nói :
_KHỔNG MINH đâu, xin cho được gặp 1 chút.
HUYỀN ĐỨC sai mời KHỔNG MINH ra.
TÚC vái chào rồi hỏi :
_Xưa nay vẫn mộ tài đức tiên sinh, chưa được bái kiến bao giờ. Nay may mắn được gặp, xin cho biết việc an nguy ngày nay.
KHỔNG MINH nói :
_Mưu gian của TÀO THÁO tôi đã biết cả, chỉ giận sức mình chưa đủ, nên còn tạm lánh đó thôi.
TÚC lai hỏi :
_Hoàng thúc nay định ở đây hay đi đâu?
KHỔNG MINH đáp :
_Sứ quân tôi có quen Thái thú NGÔ THẦN ở Thương Ngô, nay sắp đến đó nhờ.
TÚC nói ;
_NGÔ THẦN lương khan binh ít, giữ mình còn chẳng nổi, cho ai nhờ được !
KHỔNG MINH nói ;
_Chổ ấy tôi cũng biết không ở lâu được. Nay hãy nương tạm, rồi sẽ liệu kế khác.
TÚC nói :
_TÔn tướng quân tôi hùng cứ 6 quận, binh giỏi lương nhiều, lại kính hiền trọng sĩ, anh hùng miền Giang Đông nhiều người quy phục. Nay xin hiến ông 1 kế. Chi bằng tiên sinh sai người tâm phúc sang liên kết với Đông Ngô để cùng mưu toan việc lớn.
KHỔNG MINH nói :
_LƯU sứ quân và TÔn tướng quân xưa nay không quen nhau, sợ uổng mất lời.Vả lại, không có ai tâm phúc có thể sai đi được.
TÚC nói :
_Lệnh huynh GIA CÁT CẨN hiện đương làm tham mưu ở Giang Đông, đêm nagy2 mong được gặp lệnh tiên sinh. Tuy tôi không có tài, xin cùng tiên sinh vào ra mắt TÔN tướng quân để bàn việc lớn.
HUYỀN ĐỨC nói :
_ KHỔNG MINH là thầy ta, rời ta 1 lúc không xong, đi thế nào được?TÚC cố nài 3-4 lần, HUYỀN ĐỨC cứ giả vờ không nghe, KHỔNG MINH nói :
_Việc đã kíp rồi, tôi xin phụng mệnh đi 1 chuyến.
HUYỀN ĐỨC bấy giờ mới đồng ý.

Sau khi dùng miệng lưỡi bẻ bọn mưu sĩ Giang Đông xong KHỔNG MINH mới được gặp TÔN QUYỀN.

Thi lễ xong, QUYỀN mời KHỔNG MINH ngồi. Các quan văn võ sắp hàng 2 bên.

LỖ TÚC đứng bên cạnh chỉ đợi xem KHỔNG MINH nói với QUYỀN thế nào. KHỔNG MINH giải bày ý kiến của LƯU BỊ, rồi liếc mắt nhìn TÔN QUYỀN , thấy QUYỀN mắt biếc râu đỏ, tướng mạo đường bệ, liền nghĩ thầm rằng : "Người này tướng mạo khác thường, chỉ ưa nói khích không ưa thuyết phục; đợi khi nào hỏi, bấy giờ ta sẽ khích cho mấy câu là xong".

Khi tả hữu dâng trà xong, TÔN QUYỀN nói :
_ tôi thường nghe LỖ TỬ KÍNH nói đến tài của túc hạ, nay may được gặp, xin túc hạ có điều gì hay chỉ bảo cho
KHỔNG MINH đáp :
_Tôi vô tài ít học. Không dám để Ngài hỏi.
QUYỀN nói :
_Túc hạ mới rời Tân Dã, giúp LƯU DỰ CHÂU đánh nhau với TÀO THÁO, tất biết tình hình bên THÁO thế nào?
KHỔNG MINH đáp :
_LƯU DỰ CHÂU binh đơn, tướng ít, thành Tân Dã nhỏ lại không có lương, đâu dám chống nhau với TÀO THÁO?
QUYỀN lại hỏi :
_Quân THÁO nhiều hay ít?
KHỔNG MINH nói :
_Cả quân mã, quân bộ và quân thủy, ước được hơn trăm vạn.
QUYỀN trố mắt ngạc nhiên hỏi :
_Ông nói dối ta chăng?
KHỔNG MINH đáp :
_Không dám dối đâu : TÀO THÁO ở Duyện Châu đã có 20 vạn; bình xong VIÊN THIỆU , lại thêm được năm sáu mươi vạn; quân mới mộ ở Trung Nguyên được ba bốn mươi vạn. Tính ra có kém gì 150 vạn. Thế mà LƯỢNG nói có 100 vạn là vì sợ người Giang Đông mất vía đó thôi !

LỖ TÚC đứng cạnh , nghe nói tái mặt lại, đưa mắt cho KHỔNG MINH. KHỔNG MINH cứ lờ đi.
QUYỀN lại hỏi :
_Chiến tướng của TÀO THÁO nhiều hay ít?
KHỔNG MINH nói :
_Những mưu sĩ lắm mưu nhiều trí và những tướng đấu tài đánh giỏi ít ra cũng được vài nghìn.
QUYỀN lại hỏi :
_Nay TÀO THÁO đã bình được Kinh, Sở còn tham vọng gì nữa không?
KHỔNG MINH đáp :
_TÀO THÁO hiện nay hạ trại kín ven sông, sắm sửa thuyền bè, chẳng lấy Giang Đông thì lấy đâu.
QUYỀN lại hỏi :
_Đối với âm mưu của TÀO THÁO , nên đánh hay không, xin túc hạ quyết định giúp ta 1 lời.
KHỔNG MINH nói :
_LƯỢNG tôi có 1 lời , nhưng chỉ sợ tướng quân không chịu nghe thôi.
QUYỀN nói :
_Xin cho nghe lời cao kiến.
KHỔNG MINH nói :
_Trước kia thiên hạ đại loạn, nên tướng quân phải dấy binh ở Giang Đông, LƯU DỰ CHÂU tụ quân ở Hán Nam, để cùng tranh giành với TÀO THÁO.
Nay THÁO đã dẹp xong nạn lớn, tình hình sắp ổn định xong. Vừa đây THÁO lại phá được Kinh Châu, uy danh lừng bốn bể. Bây giờ, dẫu có anh hùng cũng không có đất dụng võ,cho nên LƯU DỰ CHÂU phải trốn tránh đến đây .
Vậy xin tướng công liệu mà tính toán công việc.Nếu tướng quân có thể lấy quân Ngô,Việt mà chống TÀO được,thì nên sớm cự tuyệt nó đi.
Nếu không muốn thế, sao không theo ngay lời các mưu sĩ đã bàn, thu quân mã, xếp áo giáp lại, rồi ngoảnh mặt về Bắc mà hàng?
TÔN QUYỀN chưa kịp đáp, KHỔNG MINH lại nói rằng :
_Tướng quân ngoài mặt thì giả tiếng phục tùng nhưng trong bụng vẫn còn ngờ vực. Việc kíp rồi mà không quyết đoán thì vạ đến nơi rồi đó !
TÔN QUYỀN lại hỏi :
_Nếu quả như lời ông, thì sao LƯU DỰ CHÂU không hàng TÀO đi?
KHỔNG MINH đáp :
_Ngày xưa ĐIỀN HOÀNH là 1 tráng sĩ nước TỀ còn biết giữ lễ nghĩa không chịu nhục,huống chi LƯU DỰ CHÂU là tôn thân nhà Hán, anh hùng lừng lẫy trên đời, kẻ sĩ đều trông mong. Việc không xong là bởi trời, có đâu lại chịu luồn cúi người ta?!
TÔN QUYỀN nghe KHỔNG MINH nói xong, nét mặt hầm hầm, rủ áo đứng dậy, lui vào nhà sau. Các quan cũng tủm tỉm cười và giải tán.
LỖ TÚC trách KHỔNG MINH rằng :
_Sao tiên sinh lại nói thế? May mà chủ tôi rộng lượng, không nỡ trách ngay, chứ như lời tiên sinh vừa nói là khinh miệt chủ tôi lắm đấy !
KHỔNG MINH ngẩng mặt cười, nói :
_Sao không có lượng bao dung thế?Ta đã có được mẹo phá TÀO THÁO,vì không hỏi tới, nên tôi không nói đó thôi.
TÚC nói :
_Nếu quả tiên sinh có mẹo hay, tôi xin mời chủ tôi ra để tiên sinh dạy cho.
KHỔNG MINH nói :
_Quân trăm vạn TÀO THÁO , ta coi như đàn kiến, chỉ giơ tay 1 cái là tan ra như cám cả !
TÚC nghe nói, liền vào nhà sau gặp TÔN QUYỀN. QUYỀN lúc ấy còn bực, ngoảnh lại bảo LỖ TÚC rằng :
_ KHỔNG MINH khinh ta quá chừng !
TÚC nói :
_Tôi cũng đã trách KHỔNG MINH , KHỔNG MINH cười và trách lại rằng Chúa công không có lượng dung người,cho nên KHỔNG MINH có mẹo phá TÀO cũng không muốn nói ra cho biết. Xin Chúa công thử hỏi KHỔNG MINH xem thế nào?
QUYỀN bèn lập tức nguôi giận làm vui nói :
_À, thế ra KHỔNG MINH vẫn có mẹo hay, nên nói khích ta. Ta 1 lúc nghĩ nông cạn, tí nữa làm lỡ mất việc to.
Lập tức cùng LỖ TÚC lại ra triều đường, mời KHỔNG MINH vào nói chuyện.
QUYỀN xin lỗi KHỔNG MINH rằng :
_vừa rồi tôi trót lỡ lời, xin tiên sinh tha lỗi cho.
KHỔNG MINH cũng tạ lại rằng :
_LƯỢNG tôi nói năng lỗ mãng, xin tướng quân cũng thứ tội cho.
QUYỀN mời ngay KHỔNG MINH vào nhà sau, làm tiệc khoản đãi. Được vài tuần rượu, QUYỀN hỏi rằng :
_TÀO THÁO vốn chỉ ghét LÃ BỐ, LƯU BIỂU ,VIÊN THIỆU, VIÊN THUẬT, LƯU DỰ CHÂU với tôi mà thôi. Nay đã trừ được cả,duy chỉ còn DỰ CHÂU với tôi.
Tôi không thể đem cả nước Ngô dâng cho người ta được. Kế của tôi đã quyết, nhưng phi LƯU DỰ CHÂU giúp cho thì không ai đương nổi TÀO THÁO bây giờ. Mà LƯU DỰ CHÂU vừa mới thua trận, làm thế nào mà chống lại nạn này?
KHỔNG MINH nói :
_DỰ CHÂU mới thua nhưng QUAN VÂN TRƯỜNG còn thống lĩnh hàng vạn tinh binh, LƯU KỲ ở Giang Hạ cũng có chừng vạn quân sĩ.

Quân TÀO từ xa đến, tất cũng mỏi mệt ; mới đây lại đuổi DỰ CHÂU , quân khinh kỵ đi 300 dặm 1 ngày, khác nào nỏ cứng đã giương lên đuối sức, chưa chắc đã bắn thủng được mảnh lụa mỏng.

Vả lại ngươi phương Bắc không quen đánh thủy ; quân dân ở Kinh Châu gặp thế bí phải phục TÀO , chứ không phải tự nguyện. Nay tướng quân thật muốn đồng tâm hiệp lực với DỰ CHÂU , thì làm gì không phá được TÀO THÁO.
Quân TÀO mà bị phá, tất phải kéo về Bắc, thì thế Kinh, Ngô lại mạnh mà hình thành thế chân vạc được. Cơ hội được thua lúc này, xin tướng quân hãy nghĩ cho kỹ mà quyết đi !
QUYỀN mừng lắm , nói :
_Mấy lời của tiên sinh thật đã làm sáng mắt cho tôi. Ý tôi đã quyết, không còn hồ nghi gì nữa.

Ngay hôm ấy, QUYỀN bàn bạc cất quân để cùng đi phá TÀO THÁO.


LẠM BÀN :

Xem thí dụ trên, ta thấy rõ 3 thế lực 3 mưu kế chính :
_TÀO THÁO dùng kế hư trương thanh thế, dàn quân 83 vạn còn nói thăng, nói quá lên, buộc TÔN QUYỀN sợ hãi mà hàng.

_TÔN QUYỀN chưa biết rõ thực lực của TÀO THÁO , 1 mặt phòng bị, 1 mặt muốn nhờ LƯU BỊ liên kết với tướng tá của LƯU BIỂU. Nội bộ TÔN QUYỀN chia làm 2 phe chủ chiến và chủ hòa đang bàn luận sôi nổi, nên QUYỀN chưa dám đưa ra chính kiến.

_LƯU BỊ, KHỔNG MINH dùng cách tọa sơn quan hổ đấu, nhìn 2 cọp đánh nhau để hưởng lợi. KHỔNG MINH nói rõ ý đồ đó với LƯU BỊ : Nếu quân Nam được, cùng đánh TÀO THÁO lấy Kinh Châu. Nếu quân Bắc được, thừa thế lấy Giang Nam.

KHỔNG MINH VÀ THUẬT CƯƠNG NHU TƯƠNG TẾ :

KHỔNG MINH muốn gặp LỖ TÚC để sang Giang Nam, dặn LƯU BỊ nếu TÚC hỏi quân tình TÀO THÁO thì nói không biết để TÚC gặp KHỔNG MINH........đóng để mở.

LƯU BỊ, KHỔNG MINH đóng rất giỏi vỡ kịch này. LƯU BỊ thực tình muốn KHỔNG MINH sang Giang đông liên quân với TÔN QUYỀN nhưng vẫn giả vờ là không muốn rời KHỔNG MINH.............lại đóng để mở.

Sang đến Giang Đông, thấy tướng TÔN QUYỀN là người cương cường, không khuất phục, KHỔNG MINH khiêu khích, hư trương thanh thế, nói TÀO THÁO là quân nhiều tướng giỏi, thuyết TÔN QUYỀN đầu hàng nhục nhã
.....lại là đóng để đối phương bộc lộ tính khí.

Khi TÔN QUYỀN tức giận là bộc lộ ý chí không muốn hàng TÀO, KHỔNG MINH lại hé mẹo diệt trăm vạn quân TÀO như diệt kiến với LỖ TÚC........là cách mở để TÔN QUYỀN lọt vào.

Gặp TÔN QUYỀN lần này, KHỔNG MINH mới mở bộc lộ hết kế sách đánh TÀO với TÔN QUYỀN. TÔN QUYỀN vững tâm liên minh với LƯU BỊ.



Tùy cơ ứng biến, khi cần úp thì úp, nhu thì nhu ; khi cần mở thì mở, cương thì cương. Khi úp để mở,
khi mở để úp. Trong úp có mở , trong mở có úp , biến hóa vô cùng.

 

 

2.SƠ NHI BẤT LẬU : TUYỆT ĐỐI BÍ MẬT.


Sơ nhi bất lậu tựa như bình rượu đậy kín, không để giọt nào chảy ra ngoài. Có nghĩa là giữ tuyệt đối bí mật.

Một trong những kế sách lớn của thuật bãi hạp, đóng mở, ứng dụng vào quân sự. Khi mở thì kỹ càng, toàn vẹn, khi đóng thì giữ gìn tuyệt đối bí mật.

Việc dùng binh phải giữ bí mật, nếu lộ bí mật thì đối phương đề phòng hoặc tương kế tựu kế tìm cách phản công.

Khi nội bộ tướng lĩnh có người làm phản, đem bí mật quân sự tiết lộ cho đối phương biết, lúc đó phải tùy cơ ứng biến thật giỏi mới bảo toàn được lực lượng và thủ thắng.

THÍ DỤ : Mượn tiếng.

QUẢN DI NGÔ nói với TỀ HOÀN CÔNG :

_ Mấy năm nay ta cứu nước YÊN, giúp nước LỖ, đắp thành cho nước HÌNH và VỆ, chư hầu 1 lòng tin phục chính là lúc có thể dùng quân chư hầu ; để cứu TRỊNH thì không gì bằng đánh SỞ , nếu ta đánh SỞ tất phải hội quân chư hầu lại.
TỀ HOÀN CÔNG nói :
_ Ta hội quân chư hầu thì nước SỞ tất biết mà phòng bị , ta khó mà đánh được.
QUẢN DI NGÔ nói :
_ Nước SÁI có lỗi với Chúa công, ta muốn đánh đã lâu, mà SỞ tiếp giáp với SÁI. Nay ta mượn tiếng đi đánh
SÁI, nhân tiện đem quân đánh SỞ thì SỞ không biết mà phòng bị.


* * * *


Để tiến đánh nước SỞ, 1 mặt TỀ HOÀN CÔNG mật ước với các nước GIANG, HOÀNG, LỖ ; 1 mặt muốn cắt vây cánh nước SỞ nên viết thư sai vua nước Từ đem quân đánh nước THƯ. Nước Từ đánh thư xong, TỀ HOÀN CÔNG bảo vua TỪ
đóng quân ở kinh đô nước THƯ phòng sự nguy cấp. Bấy giờ SỞ đem quân đánh nước TRỊNH.
TRỊNH VĂN CÔNG xin giảng hòa cho dân khỏi khổ.
Quan đại phu KHỔNG THÚC can :
_ Tề sắp đánh SỞ là vì nước ta đó, nên gắng đợi.
TRỊNH VĂN CÔNG sai người cáo cấp với TỀ HOÀN CÔNG. TỀ HOÀN CÔNG cho TRỊNH phao tin quân TỀ sang cứu TRỊNH khiến cho Sở không dám tiến binh, rồi cho 1 toán quân hội với chư hầu đánh SỞ, cho QUẢN DI NGÔ làm
đại tướng. Lại sai THỤ ĐIÊU đem quân đánh nước SÁI.


* * * *


Nước SÁI vẫn cậy thế SỞ không phòng bị. Khi quân TỀ đến mới chống giữ. THỤ ĐIÊU diễu quân dưới chân thành nước SÁI. SÁI hầu biết rõ THỤ ĐIÊU là kẻ tiểu nhân, sai đem vàng lụa lễ THỤ ĐIÊU. THỤ ĐIÊU nhận lễ và cho biết TỀ HOÀN CÔNG sẽ còn đánh SỞ và các nước sẽ phá hũy kinh thành nước SÁI.

SÁI hầu sợ hãi trốn sang SỞ, dân SÁi bỏ chạy cả.

SÁI hầu đến SỞ gặp SỞ THÀNH VƯƠNG , biết rõ mưu kế TỀ HOÀN CÔNG ,sai quân sĩ phòng giữ các nơi, triệu ĐẤU CHƯƠNG ở TRỊNH về.


* * * * *



Khi TỀ HOÀN CÔNG cử đại binh sang SỞ. Đến biên giới nước SỞ thấy 1 người mũ áo chỉnh tề, đứng ở bên đường, khúm núm cúi chào :
_ Chẳng hay có phải tôi được tiếp kiến TỀ hầu không ạ? tôi là sứ thần nước SỞ chờ ngài đã lâu lắm rồi.
Nguyên người ấy tên là KHUẤT HOÀN , là 1 quý tộc nước SỞ, làm quan Đại Phu, bấy giờ phụng mệnh SỞ THÀNH VƯƠNG ra thương thuyết với quân nước TỀ.
TỀ HOÀN CÔNG hỏi QUẢN DI NGÔ rằng :
_Sao người nước SỞ lại biết trước là ta đem quân tới đây?
QUẢN DI NGÔ nói :
_ Tất là có người nào đem mưu kế cúa ta tiết lộ cho người SỞ biết. Nhưng nay họ đã sai sứ đến đây, là có ý muốn bày tỏ điều gì đó, tôi xin lấy đại nghĩa mà trách quở người ấy khiến cho hắn xấu hổ thì có lẽ không cần phải đánh mà tự khắc họ phải phục.

Nói xong, QUẢN DI NGÔ ra tiếp kiến KHUẤT HOÀN. 2 người chấp tay vái chào nhau. KHUẤT HOÀN nói:
_ Chúa công tôi nghe tin quý quốc đem quân tới đây, vậy có sai tôi ra để thưa với quý quốc rằng, TỀ và SỞ nước nào làm chủ nước ấy,nước Tề ở Bắc Hải,nước Sở ở Nam Hải,trâu ngựa không đánh hơi nhau được. Chẳng
hay vì cớ gì mà quý quốc lại đi vào đất nước chúng tôi, xin quý quốc ngỏ lời cho biết.
QUẢN DI NGÔ nói :
_ Ngày xưa, vua THÀNH VƯƠNG nhà Chu phong cho tiên quân là THÁI CÔNG ở nước TỀ, có dặn 1 câu rằng. Các nước chư hầu, nước nào không theo mệnh thiên tử nhà Chu, thì tiên quân ta được quyền đem quân đi đánh dẹp. từ khi nhà Chu thiên sang Đông Đô, các nước chư hầu tiếm quyền Chúa Công ta lại phụng mệnh làm bá chủ.
Nước SỞ nhà ngươi theo lệ mỗi năm phải cống cho thiên tử nhà Chu 1 bó cỏ mao để dùng về việc cúng tế,
thế mà dám bỏ liều không cống, bởi vậy ta phải đến đây để đòi. Vả lại vua CHIÊU VƯƠNG nhà Chu ngày trước đi sang địa giới nước SỞ mà không thấy trở về, ấy cũng là bởi cớ nước SỞ ; người còn nói gì?!
KHUẤT HOÀN nói :
_ Từ khi nhà Chu suy yếu, các nước chư hầu đều bỏ lễ triều cống, chẳng riêng gì nước SỞ tôi. Tuy vậy, về việc cống cỏ bao mao, thì Chúa Công tôi cũng xin chịu lỗi ; còn về việc vua CHIÊU VƯƠNG không trở về là vì cớ đắm thuyền. xin quý quốc cứ hỏi người ở ngoài bờ sông thì khắc biết ; Chúa Công tôi không dám nhận lỗi ấy. Vậy tôi xin về nói lại với Chúa Công tôi.
Nói xong liền quay xe trở về. QUẢN DI NGÔ bảo TỀ HOÀN CÔNG rằng :
_ Người nước SỞ còn quật cường lắm, chưa có thể lấy miệng lưỡi mà khuất phục được, ta phải tiến quân lên để ra uy mới được.
Nói xong, truyền cho các nước đều tiến quân đến đóng ở đất Kinh Địa. SỞ THÀNH VƯƠNG cho TỬ VĂN làm đại tướng, đem quân ra đóng ở đất Hán Nam. TỬ VĂN nói với SỞ THÀNH VƯƠNG rằng :
_ QUẢN DI NGÔ là 1 người giỏi binh pháp, nay đem quân các nước đến đây, tất là đã có mưu kế vạn toàn rồi, ta nên sai sứ đi 1 lần nữa để dò xem mạnh yếu thế nào, bấy giờ hoặc đánh hoặc hòa, ta sẽ tùy liệu.
SỞ THÀNH VƯƠNG nói :
_ Bây giờ biết sai ai được?
TỬ VĂN nói :
_ KHUẤT HOÀN đã biết mặt QUẢN DI NGÔ thì nên sai đi lần nữa.
KHUẤT HOÀN nói :
_ Lần trước tôi đã nhận cái lỗi không cống cỏ bao mao. Nếu Đại vương muốn giảng hòa thì tôi xin gắng đi,
để gỡ mối lôi thôi cho 2 nước. còn như muốn đánh , thì xin sai người nào hơn tôi mới đi được.
SỞ THÀNH VƯƠNG nói :
_Hoặc đánh hoặc hòa, ta cho ngươi được tùy thương thuyết.

KHUẤT HOÀN phụng mệnh SỞ THÀNH VƯƠNG , lại đến chỗ quân TỀ đóng, xin vào yết kiến TỀ HOÀN CÔNG.
QUẢN DI NGÔ nói với TỀ HOÀN CÔNG rằng :
_ Nước Sở lại cho sứ đến, tất là xin giảng hòa, Chúa Công nên tiếp đãi cho tử tế.
KHUẤT HOÀN vào yết kiến TỀ HOÀN CÔNG , sụp lạy 2 lạy. TỀ HOÀN CÔNG đáp lễ lại rất tử tế, rồi hỏi xem ý nuốn thế nào?
KHUẤT HOÀN nói :
_ Chúa Công tôi vì cớ không cống cỏ bao mao, để quý quốc phải đem quân tới đây, Chúa Công tôi biết tội lắm rồi ; nếu quý quốc chịu rút quân khỏi 1 xá, thì Chúa Công tôi há không dám vâng mệnh.
TỀ HOÀN CÔNG nói :
_ Nếu Đại Phu biết khuyên quốc quân giữ trọn chức phận, khiến cho ta có thể tâu lại với thiên tử được, thì ta còn đợi gì nữa mà chẳng rút quân.
KHUẤT HOÀN về nói với SỞ THÀNH VƯƠNG rằng :
_ Tôi nói với TỀ hầu, TỀ hầu đã chịu rút quân rồi. Tôi lại có hẹn với TỀ hầu xin đem cống cỏ bao mao, vậy Đại Vương chớ có thất tín.
SỞ THÀNH VƯƠNG lại sai người đ0i do thám xem chư hầu đã rút quân về chưa. Quân sĩ về báo rằng:
_Quân các nước rút ra ngoài 30 dặm , đóng tại đất Thiệu Lăng.
SỞ THÀNH VƯƠNG nói :
_ TỀ hầu đã chịu rút quân, thế là có ý sợ ta !
Nói xong , lại toan bỏ không cống cỏ bao mao nữa.
TỬ VĂN nói :
_ Vua 8 nước chư hầu còn không nỡ thất tín với 1 kẻ thường dân , thế mà Đại Vương lại muốn cho 1 kẻ thường dân thất tín với Vua các nước sao?
SỞ THÀNH VƯƠNG nín lặng , không nói gì cả , rồi sai KHUẤT HOÀN đem mấy xe vàng lụa đến đất Thiệu Lăng để khao quân chư hầu. Lại sai sửa soạn sẵn 1 xe cỏ bao mao , đem đến trình với TỀ HOÀN CÔNG để rồi sai
sứ vào cống thiên


LẠM BÀN :

a/. Mục tiêu của TỀ HOÀN CÔNG và QUẢN DI NGÔ là đánh SỞ nhưng mượn cớ là đánh SÁI để SỞ không phòng bị, thừa cơ đánh úp.

b/. Việc chuẩn bị đánh nước SÁI và nước SỞ của TỀ HOÀN CÔNG và QUẢN DI NGÔ rất hoàn bị :

_ giảng hòa, liên minh, mật ước với các nước GIANG, HOÀNG, THƯ và LỖ.

_ chặt bớt vây cánh của SỞ là nước TỪ, đánh nước SÁI.

_ cầm chân quân SỞ bằng cách phao tin cứu TRỊNH.

c/. Bí mật bị tiết lộ.

THỤ ĐIÊU đã tham vàng bạc và tiết lộ bí mật quân sự cho SÁI biết, SÁI báo với SỞ và SỞ đã phòng bị.

QUẢN DI NGÔ nhanh chóng hiểu rằng mưu kế của TỀ đánh SỞ đã bại lộ, nên 1 mặt tiến quân để dọa dẫm, 1 mặt tiến hành thủ đoạn ngoại giao để cho SỞ cầu hòa. Tùy cơ ứng biến rất tài tình.

d/. Kết cục , 1 chuyến xuất quân của TỀ HOÀN CÔNG và QUẢN DI NGÔ : Nước SÁi không phòng bị chỉ dựa dẫm vào nước SỞ nên đã bại trận, nước TỪ bị nước THƯ thôn tính, nước TRỊNH được cứu, nước SỞ cầu hòa.

e/. Vai trò của KHUẤT HOÀN cũng khá nổi bật, báo cho TỀ biết là SỞ đã biết mưu kế của Tề, ngăn TỀ tiến công. Dùng ngoại giao để Sở khỏi lâm vào cuộc chiến. Cũng là cách tương kế tựu kế.

 

3. DĨ KHUẤT CẦU THÂN : CO ĐỂ DUỖI.
Dĩ khuất cầu thân là co mình lại để lấy thế duỗi ra. Tượng như con Rồng, cuộn thì ngắn vươn thì dài, như con Hổ thu mình để vươn ra chụp con mồi, như con cáo rút cổ lại để nhảy ra cắn người.
Là những thuật giả bệnh, giả sắp chết ,giả điên...để lừa đối phương.Đối phương tưởng là vô hại, chủ quan không phòng bị, từ đó tung đòn ác hiểm để tiêu diệt.
Kế này dựa trên đạo lý có Âm Dương, Dương động thì hành động, Âm ngưng thì thu tàng, Dương động thì xuất, tùy theo Âm mà nhập. Khi chưa gặp thời cơ, cơ hội, cần lui thì lui; khi gặp thời cơ, cơ hội, cần tiến thì tiến.
Lui thì thanh tĩnh nhẹ nhàng, tiến thì nhanh ồ ạt. Lui như Rồng ẩn vực sâu. Tiến như Hổ lao xuống núi.


THÍ DỤ : A_ TƯỞNG ĐÃ CHẾT.

BÀNG QUYÊN và TÔN TẪN là bạn đồng môn, cùng học với QUỶ CỐC. BÀNG QUYÊN sợ TÔN TẪN giỏi hơn mình, sẽ tranh giành ảnh hưởng và địa vị của mình ở NGỤY,bèn tìm cách hại TÔN TẪN.
_ Đại Vương giận lắm, muốn xử cực hình, tiểu đệ phải kêu mãi và hết sức bảo đảm, mừng cho đại huynh được toàn tính mệnh, nhưng đại huynh phải chặt chân và thích chữ vào mặt, đó là theo pháp luật nhà NGỤY, không phải là tiểu đệ không hết sức kêu xin.
TÔN TẪN nói :
_Tiên sinh đã nói dẫu TÔN TẪN này có bị tàn hại nhưng không phải là đại hung, nay được toàn mệnh như thế này là nhờ ơn đại huynh, TẪN này không dám quên ơn báo.
BÀNG QUYÊN bèn sai đao phủ trói TÔN TẪN lại , chặt bỏ 2 xương bánh chè ở đầu gối. TẪN kêu rú lên 1 tiếng rồi ngã lăn ra không biết gì,hồi lâu mới tỉnh; kẻ hành hình lại dùng kim châm vào mặt TẪN 4 chữ:tư thông ngoại quốc,rồi lấy mực bôi vào.
BÀNG QUYÊN giả ý kêu khóc, lấy thuốc rịt đầu gối, dùng lụa quấn bọc, sai người kiệu ra thư quán, dùng lời nói ngon ngọt để yên ủi.
Chừng hơn 1 tháng vết đau đã liền, nhưng vì mất 2 xương bánh chè, 2 chân yếu đuối không đi lại được, chỉ xếp vòng tròn mà ngồi. TÔN TẪN đã trở thành phế nhân, mỗi ngày chịu ơn BÀNG QUYÊN cung phụng 3 bữa, lấy làm buồn.
BÀNG QUYÊN bèn nhờ TÔN TẪN truyền bảo cho những bài của QUỶ CỐC tiên sinh chú giải binh pháp TÔN TỬ, TẪN khẳng khái nhận lời. QUYÊN đưa thẻ tre nhờ TẪN viết ra.
TẪN viết 10 phần chưa được 1,QUYÊN sai 1 người hầu là THÀNH NHI ở hầu hạ bên cạnh TẪN. Tên này thấy TẪN vô tội bị oan có ý thương xót.
1 hôm bỗng QUYÊN cho gọi nó đến hỏi TẪN mỗi ngày viết được mấy bản, nó nói vì TẪN bị chặt chân, ngồi rất khó khăn,nên mỗi ngày chỉ viết được 2-3 bản.QUYÊN nổi giận nói rằng :
_Viết chậm thế thì biết bao giờ cho xong, mày phải thúc giục luôn cho ta.
THÀNH NHI lui ra hỏi tên hầu cận BÀNG QUYÊN rằng :
_Quân sư nhờ TÔN TẪN viết, sao thúc giục như thế?
Tên hầu cận nói :
_Mày không biết , quân sư đối với TÔN TẪN bề ngoài thì làm ra thương xót nhưng trong lòng thực ghen ghét, sở dĩ còn giữ toàn tính mệnh cho TÔN TẪN là vì muốn TÔN quân truyền bảo binh thư cho, chờ khi viết xong, sẽ không cho ăn uống nữa để TÔN quân phải chết đói, đó là việc kín, mày chớ nên tiết lộ.
THÀNH NHI biết thế, về mật báo cho TÔN TẪN biết, TẪN cả sợ, nghĩ thầm : BÀNG QUYÊN đã bất nghĩa như thế, há có nên truyền bảo cho binh pháp? Lại nghĩ đến mình không chịu viết, tất nó sẽ nổi giận giết ngay.
Nghĩ mãi muốn cầu kế thoát thân,sực nhớ khi ra đi QUỶ CỐC tiên sinh có trao cho 1 cái cẩm nang, dặn khi nào nguy cấp quá thì mở ra xem, nay chính là lúc nên mở ra. Bèn mở cái cẩm nang ra xem, đó là 1 bức lụa vàng, ở trong đó viết 3 chữ : Cách giả điên. TẪN nghĩ bụng : Hóa ra là như vậy.
Buổi chiều hôm ấy, khi mâm cơm mới bưng lên, TẪN cầm đũa chực ăn, bỗng làm ra dáng mê man và nôn ọe hồi lâu rồi nổi giận, giương mắt hét to lên rằng:
_Mày sao dùng thuốc độc hại ta?
Rồi vứt chai lọ xuống đất, lấy những thẻ gỗ đã viết rồi ném vào lửa đốt bỏ, miệng cứ lảm nhảm chửi mắng mãi không thôi.
THÀNH NHI không biết TÔN TẪN giả cách, vội đi báo BÀNG QUYÊN.
Ngày hôm sau QUYÊN đến xem, thấy TẪN đờm dãi đầy mặt, phục xuống đất cười khà khà, bỗng lại khóc òa lên. QUYÊN hỏi :
_Đại huynh làm sao mà cười , làm sao mà khóc như thế?
TẪN nói :
Ta cười là cười vua NGỤY muốn hại mệnh ta, ta có 10 vạn thiên binh giúp sức,làm gì được ta !Ta khóc là khóc cho nước NGỤY không có TÔN TẪN không có ai làm đại tướng !
Nói rồi giương mắt nhìn QUYÊN, rồi cứ dập đầu mà lạy hoài, miệng nói xin QUỶ CỐC tiên sinh cứu mạng. QUYÊN nói :
_Tôi là BÀNG QUYÊN đây đại huynh chớ nhận lầm !
TẪN cứ nắm chặt lấy áo QUYÊN không chịu buông, miệng cứ kêu tiên sinh cứu mệnh. QUYÊN sai người giằng ra , hỏi THÀNH NHI :
_TÔN tử phát bênh bao lâu rồi?
THÀNH NHI nói phát tự ban đêm. QUYÊN lên xe về phủ, trong lòng nghi hoặc, sợ TÔN TẪN giả cách điên, muốn thử xem thật giả, bèn sai người đặt vào trong chuồng lợn, đầy dẫy những phân, TẪN xỏa tóc úp mặt mà nằm sấp xuống. QUYÊN lại sai người mang cơm rượu đến nói dối rằng :
_Tôi thương tiên sinh bị chặt chân gọi là tỏ lòng kính mến, nguyên súy không biết đâu .
TẪN biết mưu gian của QUYÊN , trợn mắt mắng rằng :
_ Mày lại đem thuốc độc hại ta à ?
Nói rồi đổ rượu vất cơm xuống đất, tên kia lại nhặt đống cơm cho chó ăn, và lấy phân chó và cục bùn đưa cho, TẪN cầm lấy ăn ngay .
Tên kia về báo QUYÊN, QUYÊN chắc là TẪN điên rồ thật, không lấy làm lo, từ đó thả lỏng TÔN TẪN , mặc cho ra vào .
TẪN hoặc sớm đi chiều về lại cứ nằm ở chuồng lợn, hoặc đi mà không về, nằm đất nằm cát ở đường chợ ; hoặc cười nói hoặc kêu khóc . Nhiều người biết TÔN là khách khanh, thương hại TẪN bị tàn phế đều cho ăn uống . TẪN hoặc ăn hoặc không ăn, nói lảm nhảm luôn mồm, không ai biết là TẪN giả cách điên cả.
Tuy vậy, BÀNG QUYÊN vẩn còn lấy làm lo , hạ lệnh cho địa phương cứ mỗi sáng phải đến trình báo xem TẪN ở đâu .
Bấy giờ, MẶC ĐỊCH sang chơi nước Tề ở nhà ĐIỀN KỴ . Có người học trò là CẦM HOẠT mới ở nước Ngụy đến . MẶC ĐỊCH hỏi thăm TÔN TẪN ở nước Ngụy có đắc ý hay không .
CẦM HOẠT đem việc TÔN TẪN bị chặt chân thuật lại cho MẶC ĐỊCH nghe. MẶC ĐỊCH nói :
_ Ta vốn muốn tiến cử hắn, ngờ đâu thành ra hại hắn.
MẶC ĐỊCH bèn đem tài học của TÔN TẪN và việc BÀNG QUYÊN ghen ghét nói với ĐIỀN KỴ . ĐIỀN KỴ vào tâu ngay với Uy Vương xin đem quân đón TÔN TẪN về nước. ĐIỀN KỴ nói :
_BÀNG QUYÊN đã không muốn cho TẪN làm quan ở nước Ngụy thì khi nào lại muốn cho TẪN làm quan ở nước Tề . Muốn đón phải như thế, như thế...mới được.
Uy Vương bèn sai THUẦN VU KHÔN mượn tiếng sang Ngụy dâng trà, CẦM HOẠT giả làm người hầu đi theo. Sang đến ngụy, THUẦN VU KHÔN vào chầu Huệ vương rồi ra ở ngoài nhà trạm.
CẦM HOẠT thấy TẪN điên, không cùng nói chuyện, nửa đêm mới lén đến thăm. TẪN dựa lưng vào thành giếng mà ngồi. Thấy HOẠT chỉ giương mắt nhìn mà không nói. CẦM HOẠT ứa nước mắt nói rằng :
_TÔN TẪN khổ đến thế ư? Có biết CẦM HOẠT này không? Thầy tôi có kể nỗi oan cho Vua Tề, Vua Tề rất thương mến, nay sai ông THUẦN VU đến đây, không phải vì việc dâng trà mà thực là muốn đem TÔN khanh về Tề báo cái thù chặt chân đó thôi.
TÔN TẪN chảy nước mắt như mưa, hồi lâu mới nói rằng :
_ Tôi vẫn chắc chết rấp ở ngoài rãnh, không ngờ ngày nay lại có cơ hội này. Nhưng BÀNg QUYÊN vẫn ngờ vực lắm, khơng thể đem tôi đi lọt đâu.
CẦM HOẠT nói :
_ tôi đã có kế rồi, TÔN khanh không phải quá lo, chờ khi nào tôi đi, tôi sẽ đến đón nhưng xin cứ gặp nhau ở đây, chớ dời đi nơi khác.
Hôm sau, Huệ Vương khoản đãi THẦN VU KHÔN , biết KHÔN là người biện luận giỏi, nên tặng vàng lụa rất nhiều , KHÔN từ tạ Huệ Vương chực đi, BÀNG QUYÊN lại đặt rượu ở Trường Đình để tiễn hành
Đêm trước, CẦM HOẠT đã đem TÔN TẪN giấu trong 1 cái xe phủ kín, đem quần áo của TẪN mặc cho đầy tớ là VƯƠNG NGHĨA mặc, bù đầu xỏa tóc, lấy bùn đất bôi vào mặt giả làm TÔN TẪN, địa phương cứ thế mà báo, nên BÀNG QUYÊN không ngờ.
THUẦN VU KHÔN từ biệt BÀNG QUYÊN , bảo CẦM HOẠT cho xe đi trước và giục đi cho thật nhanh,
còn mình thì đi áp hậu.
Mấy ngày sau VƯƠNG NGHĨA cũng tìm được sách thoát thân, chạy theo.
Quan địa phương thấy những quần áo bẩn thỉu quăng bỏ trên mặt đất, không thấy TÔN TẪN đâu, liền đi báo BÀNG QUYÊN, QUYÊN nghi là TẪN nhảy xuống giếng tự tử, sai người mò vớt không thấy, lại cho đi dò hỏi khắp nơi cũng không thấy tung tích TẪN đâu, nhưng sợ Ngụy Vương trách hỏi, bèn tâu TÔN TẪN chết đuối , cũng không ngờ TÔN TẪn đã về nước Tề rồi.
Sau này TÔN TẪN làm tướng quốc nước Tề, đã phục binh giết BÀNG QUYÊN tại Mã Lăng.

 

Thí dụ : B _ Con ngựa hèn tham nắm đậu

TƯ MÃ Ý, TÀO SẢNG phò thái tử TÀO PHƯƠNG lên ngôi hoàng đế. TÀO PHƯƠNG tự là LAN KHANH , nguyên là con nuôi TÀO TUẤN , chuyện bí mật ở trong cung , không ai biết do đâu mà đến.
TÀO PHƯƠNG lên ngôi, tôn tên thụy cha là MINH ĐẾ , táng ở Cao Bình; tôn QUÁCH hoàng hậu làm thái hậu;đổi niên hiệu là Chính thủy. SẢNG rất trọng vọng TƯ MÃ Ý , phàm việc gì to đều hỏi Ý trước.
SẢNG tên tự là BÁ CHIÊU , tự thuở nhỏ ra vào trong cung. MINH ĐẾ thấy người cẩn thận, đem lòng yêu mến lắm.SẢNG có 500 khách môn hạ ; trong đó có 5 người ưa chuộng thói phù hoa là HÀ YẾN, ĐẶNG DƯƠNG, LÝ THẮNG,ĐINH BẬT, TẤT PHẠM.
Lại có quan đại tư nông là HOÀN PHẠM, tự NGUYÊN TẮC , có nhiều mưu trí, người ta khen là trí nang ( túi khôn ). Mấy người ấy đều được TÀO SẢNG tin dùng.
HÀ YẾN nói với TÀO SẢNG rằng :
_ Đại quyền của chủ công, chớ cho người khác được can thiệp đến mà để lo về sau.
SẢNG nói :
_Tư Mã công cùng với ta chịu lời tiên đế thác cô, nỡ nào ta bỏ nghĩa ấy.
YẾN nói :
_ khi xưa tiên công cùng với TRỌNG ĐẠT đánh THỤC , nhiều khi bị hắn lấn át, nhân thế mà chết. Chủ công sao không xét việc đó?
SẢNG nghĩ ra, cùng với các quan thương nghị, rồi vào tâu với Ngụy Chủ rằng :
TƯ MÃ Ý công cao đức nặng, nên gia chức làm Thái Phó.
PHƯƠNG nghe lời.Từ đó binh quyền về cả tay TÀO SẢNG. SẢNG sai em là TÀO HI làm
Trung lĩnh quân, TÀO HUẤN làm Võ vệ tướng quân, TÀO NGẠN làm Tản kỵ thường thị. Mỗi người 3000 ngự lâm quân, tùy tiện ra vào chốn cung cấm. Lại dùng HÀ YẾN, ĐẶNG DƯƠNG,ĐINH BẬT làm thượng thư, TẤT PHẠM làm Tư lệ hiệu úy, LÝ THẮNG làm Hà Nam doãn. Năm người ấy ngày đêm bàn việc với TÀO SẢNG. Bởi thế tân khách nhà TÀO SẢNG mỗi ngày một nhiều.
TƯ MÃ Ý thấy vậy, thác có bệnh không ra đến ngoài. Hai con cũng từ chức về nhà.
TÀO SẢNG mỗi ngày cùng với bọn HÀ YẾN uống rượu làm vui. Phàm các đồ dùng , áo sống, không khác gì của triều đình. những đồ quý báu các nơi tiến cống, trước hết chọn đồ quý nhất lấy làm của riêng, còn thừa mới nồp vào cung.
Trong phủ chứa rất nhiều con gái đẹp. Quan hoàng môn là TRƯƠNG ĐƯƠNG xiểm nịnh TÀO SẢNG , kén lấy 18 nàng hầu của Tiên Đế , đưa vào trong phủ. SẢNG lại kén ba bốn chục con gái nhà tử tế, biết hát múa lập ra 1 đội nữ nhạc trong phủ. Lại dựng lên lầu cao gác chạm ; đúc các đồ vàng bạc ; dùng hơn 100 thợ khéo , ngày đêm chế tạo đồ dùng.
TÀO SẢNG thường hay cùng với bọn HÀ YẾN , ĐẶNG DƯƠNG ra ngoài săn bắn. Em là TÀO HI can rằng :
- Uy quyền của anh to lắm, mà cứ hay đi chơi săn bắn, nếu có người mưu hại thì làm thế nào ?
SẢNG mắng rằng :
_ Binh quyền ở trong tay ta, còn sợ gì ai nữa?
Tư nông là HOÀN PHẠM cũng can , nhưng SẢNG cũng không nghe.
Bấy giờ Ngụy chủ TÀO PHƯƠNG đổi năm Chính Thủy thứ 10 là năm Gia Bình thứ nhất. TÀO SẢNG 1 mực chuyên quyền. không biết bệnh TRỌNG ĐẠT hư thực ra làm sao.
Bữa ấy, nhân Ngụy Chủ cho LÝ THẮNG ra làm Thứ sử ở Kinh Châu. SẢNG cho LÝ THẮNG đến từ TRỌNG ĐẠT , nhân để dò xem ý tứ thế nào. LÝ THẮNG đến phủ Thái Phó, có lính canh cửa vào báo với TƯ MÃ Ý. Ý bảo với 2 con rằng :
_ Đây là TÀO SẢNG sai đến dò xem bệnh ta thực hay giả đây.
Lập tức bỏ mũ, để tóc rũ rượi, trèo lên giường ngồi dựa vào cái chăn và sai 2 nàng hầu nâng đỡ ; rồi mới sai mời LÝ THẮNG vào phủ.
LÝ THẮNG đến trước giường , lạy nói rằng :
_ Lâu nay không được hầu Thái Phó, không ngờ ngài yếu đau thế này ! Nay thiên tử sai tôi làm thứ sử Kinh Châu, xin đến đây kạy từ Thái Phó.
Ý giả điếc , đáp rằng :
_ Tinh châu gần phương bắc, ra đó giữ gìn cho khéo.
THẮNG nói :
_ Tôi được cử làm Thứ sử Kinh Châu, không phải Tinh Châu.
Ý cười nói :
_ Ngươi ở Tinh Châu lại à?
THẮNG nói :
_ Kinh Châu ở Hán Thượng.
Ý lại cười ha hả mà rằng :
_ Ngươi ở Kinh Châu lại đây à?
THẮNG nói :
_Thái Phó sao ngài yếu đến thế?
Tả hữu nói :
_ Thái Phó điếc đấy !
THẮNG mượn bút giấy viết mấy chữ đệ lên.
Ý xem xong cười rằng :
_ Ta lâu nay mệt lắm , tai điếc nghe không rõ. Chuyến này có đi thì phải giữ gìn !
Nói đoạn , lấy tay trỏ vào mồm , ra hiệu muốn uống nước. Thị tỳ dâng chén nước nóng. Ý hớp miệng vào chén nước , nước đổ ra ướt cả vạt áo. Ý ậm ự trong cổ, làm ra tiếng nghẹn, rồi nói rằng :
_ Ta suy nhược lắm , sớm tối chưa biết chết lúc nào. Ta có 2 con chẳng ra gì, nhờ người dạy bảo đỡ cho ta. Ngươi có về ra mắt đại tướng quân, nhờ nói giùm với tướng quân trông nom đỡ 2 con cho ta, thì may lắm.
Nói đoạn, nằm lăn ra bên giường, thở hồng hộc 1 lúc.
LÝ THẮNG cáo từ TRỌNG ĐẠT , về ra mắt TÀO SẢNG , thuật hết cả tình hình như thế
SẢNG mừng, nói :
_ Lão này chết thì ta không lo gì nữa !
TƯ MÃ Ý thấy LÝ THẮNG đi rồi, đứng dậy bảo với 2 con rằng :
_ LÝ THẮNG chuyến này về báo tin , TÀO SẢNG tất không nghi ta nữa ; đợi khi nào y ra thành săn bắn, thì mới thực hiện ý đồ được.
Không mấy bữa. TÀO SẢNG mời Ngụy Chủ TÀO PHƯƠNG ra yết lăng Cao Bình , tế tự Tiên Đế . Quan viên lớn nhỏ theo cả ra.
SẢNG dẫn 3 anh em và bọn tâm phúc HÀ YẾN cùng quân ngự lâm, hộ giá ra thành.
Tư nông là HOÀN PHẠM can rằng :
_ Chủ công coi giữ quân cấm binh, không nên anh em cùng đi cả ; phỏng trong thành có biến , thì làm thế nào?
SẢNG cầm roi ngựa quật vào HOÀN PHẠM , mắng rằng :
_ Ai dám làm loạn , chớ có nói càn !

* * * * * * * *

Đây nói TƯ MÃ Ý , nghe tin TÀO SẢNG dẫn 3 anh em và bọn tâm phúc , cúng quân ngự lâm theo cả Ngụy Chủ ra thành , yết lăng vua Minh Đế , nhân thể đi săn. Ý mừng lắm, lập tức vào nơi công đường, sai Tư Đồ là CAO NHƯ lĩnh chức đại tướng quân , trước hết đến giữ dinh TÀO SẢNG. Lại sai Thái Bộc là VƯƠNG QUAN , quyền chức trung lĩnh quân, giữ dinh TÀO HI.
Ý dẫn các quan vào hậu cung tâu với Quách thái hậu việc TÀO SẢNG bỏ lời tiên đế thác cô, gian tà loạn nước , xin trị tội.
Quách thái hậu thất kinh , nói :
_ thiên tử ra ngoài chưa về, thì làm thế nào?
Ý tâu rằng :
_ Tôi đã dâng biểu tâu với thiên tử, có mẹo giết được gian thần, thái hậu chớ ngại.
Thái hậu sợ hãi, phải theo lời. Ý sai Thái Úy là TƯỞNG TẾ , thượng thư lệnh là TƯ MÃ PHU cùng với mình viết biểu, phái hoàng môn mang ra ngoài thành tâu với Ngụy Chủ. Ý tự dẫn đại quân giữ kho khí giới.
HOÀN PHẠM được xem như là mưu sĩ , túi khôn của TÀO SẢNG , nghe có biến tìm cách chạy ra cửa thành. Có người bảo với TƯ MÃ Ý. Ý giật mình nói :
_ Túi khôn lọt ra mất rồi thì làm thế nào?
TƯỞNG TẾ nói :
_ Ngựa hèn tham nắm đậu trong chuồng , dù có túi khôn, cũng không dùng được.
Ý gọi HỨA DOÃN, TRẦN THÁI đến bảo rằng :
_ Hai ngươi ra gặp TÀO SẢNG , nói Thái Phó không có bụng nào hại đâu, chỉ muốn tước bớt binh quyền của anh em họ đấy thôi.
HỨA , TRẦN 2 người đi liền.
Lại đòi quan Điện trung hiệu úy là DOÃN ĐẠI MỤC đến, sai TƯỞNG TẾ viết thư, cho ĐẠI MỤC cầm ra đưa cho TÀO SẢNG. Ý dặn rằng :
_ Ngươi thân thiết với TÀO SẢNG , nên giúp việc này. Ngươi có ra mắt TÀO SẢNG , thì nói rằng ta với TƯỞNG TẾ trỏ sông Lạc Thủy ăn thề, chỉ vì việc binh quyền, chớ không có bụng nào cả.
DOÃN ĐẠI MỤC vâng lệnh đi ra.

* * * * * * * *

Nói về TÀO SẢNG đang mãi săn bắn, huýt chó thả chim. Chợt có tin báo trong thành nổi loạn, Thái phó có biểu văn đưa đến.SẢNG giật nảy mình, suýt nữa ngã ngựa. Quan hoàng môn dâng biểu quỳ trước mặt thiên tử. SẢNG tiếp lấy tờ biểu mở ra, sai cận thần d0oc5 lên vua nghe.
Biểu rằng :
Chinh Tây đại tướng quân thái phó thần là TƯ MÃ Ý, rất sợ hãi, cúi đầu kính dâng biểu lên bệ hạ : Thần tự khi đánh liêu Đông trở về, tiên đế giao phó bệ hạ cho Tần Vương và bọn thần, bên giường ngự, cầm tay thần, gắn bó dặn dò việc sau. Nay đại tướng quân TÀO SẢNG bỏ lời cố mệnh, loạn phép nhà nước, trong thì tiếm pháp, ngoài thì chuyên quyền , dung hoàng môn là TRƯƠNG ĐƯƠNG làm đô giám, cùng nhau tư thông, để ngấp nghé ngôi báu,làm cho lìa cách 2 cung,tàn hại trong tình cốt nhục. Thiên hạ nôn nao, mang lòng sợ hãi. Đó không phải là ý của tiên đế bảo bệ hạ và dặn thần như thế. Thần tuy già yếu, dám đâu quên lời xưa. Thái úy thần là TẾ, thượng thư thần là PHU cũng nghĩ rằng TÀO SẢNG không có bụng tôn vua, không nên cho anh em y được giữ binh quyền túc vệ trong cung nữa. Vì thế , thần tâu với hoàng thái hậu, thái hậu sai thần tấu biểu với bệ hạ để ra lệnh. Vậy thần dâng biểu này, xin bắt SẢNg , HI , HUẤN phải bãi binh đi mà về nhà, không được để xa giá bệ hạ ở lâu ngoài thành. Nếu chậm trễ, xin án quân pháp mà trị tội. Thần phải gượng bệnh đem quân ra đóng trên cầu Lạc Thủy, để coi xét việc bất thường. Vì vậy bày tỏ, xin được soi xét.
Ngụy Chủ TÀO PHƯƠNG nghe xong,bảo với TÀO SẢNG rằng :
_ Thái phó nói vậy , ngươi khu xử làm sao?
TÀO SẢNG cuống cả người lại, bảo với 2 anh em rằng :
_ Lam thế nào bây giờ?
HI nói :
_ Em đã can mãi anh,anh chẳng nghe cho, mới đến nỗi này. TƯ MÃ Ý quỷ quyệt vô cùng, KHỔNG MINH còn không đánh nổi, huống chi anh em chúng ta ! Chi bằng tự trói mình về chịu lỗi, cầu khỏi cái chết là hơn !
Một lát, tham quân TÂN TỆ, TƯ MÃ LỖ CHI đến. SẢNG hỏi chuyện. Hai người nói :
_ Trong thành vây kín như rào sắt, thái phó đem quân đóng trên cầu sông Lạc, không tài nào mà về được đâu. Nên định kế lớn đi !
Đang nói thì tư nông là HOÀN PHẠM tế ngựa chạy đến. PHẠM nói :
_ Thái phó đã khởi biến rồi , tướng quân sao không rước thiên tử ra Hứa Đô, cất quân ngoài mà đánh TƯ MÃ Ý ?
SẢNG nói :
_ Cả nhà ta ở trong thành , sao nên đi nơi khác mà cầu cứu?
PHẠM nói :
_ Thất phu đương lúc nạn, còn muốn cầu sống. Nay chủ công theo với thiên tử, hiệu lệnh thiên hạ, đâu chẳng phải nghe , sao lại đâm đầu về đất chết làm chi?
SẢNG nghe nói phân vân chưa quyết, chỉ ứa nước mắt khóc.
PHẠM lại nói :
_ Tự đây ra Hứa Đô , chẳng qua nửa đêm thì đến nơi. Lương thảo trong thành, đủ chi được vài năm. Vả lại quân mã trại riêng của chủ công, ở ngay Quan Nam gần đây, gọi 1 tiếng là đến. Ấn đại tư mã tôi đã mang ra đây, chụ công nên làm cho kịp đi, nếu chậm thì việc hỏng mất.
SẢNG nói :
_ các ngươi chớ thôi thúc lắm, để ta nghĩ kỹ xem đã !
Được 1 lát , thị trung HỨA DOÃN , thượng thư lệnh TRẦN THÁI đến. Hai người nói :
_ Thái phó chỉ vì việc tướng quân quyền to quá, muốn tước bớt binh quyền đi, chớ không có bụng gì đâu. Tướng quân nên về ngay trong thành cho sớm.
SẢNG nín lặng chẳng nói gì , 1 lát , lại có DOÃN ĐẠI MỤC đến nói :
_ Thái phó trỏ sông Lạc phát lời thề, tịnh không có bụng nào. Có thư của TƯỞNG thái úy ở đây. tướng quân nên bỏ binh quyền, về ngay tướng phủ cho.
SẢNG tin là thực.
HOÀN PHẠM lại nói ;
_ Việc đã cấp rồi, chớ nghe người ta nói mà đâm vào đất chết !
Đêm hôm ấy, TÀO SẢNG vẫn không quyết bề nào, tay cầm thanh gươm thở ngắn thở dài cho đến sáng, lúc nào cũng nước mắt chảy vòng quanh mà vẫn hồ nghi không biết nghĩ ra sao.
HOÀN PHẠM vào trướng giục rằng :
_ Chủ công nghĩ suốt cả đêm, mà vẫn chưa quyết ư?
SẢNG vất thanh gươm xuống than rằng :
_ Bụng ta không muốn cất quân, ta tình nguyện bỏ quân, chỉ làm 1 tên phú ông là đủ.
PHẠM khóc ầm lên, ra trướng nói :
_ TÀO TỬ ĐAN khoe mình trí mưu, nay được 3 con đụt như chó lợn cả.
HỨA DOÃN, TRẦN THÁI xui SẢNG nộp ấn thụ trước cho TƯ MÃ Ý. SẢNG sai đem ấn thụ đưa ra. Chủ bộ là DƯƠNG TỐNG giằng lại ấn thụ, khóc rằng :
_ Hôm nay chủ công bỏ binh quyền, tự trói xin hàng, không tránh khỏi chết ở chợ cửa đông đâu.
SẢNG nói :
_ Thái phó tất không thất tín với ta !
Bởi thế, TÀO SẢNG đem ấn thụ đưa cho HỨA, TRẦN 2 người mang về trước, giao nộp TƯ MÃ Ý. Quân sĩ thấy không có tướng ấn, lẻ tẻ tan mất cả. Thủ hạ TÀO SẢNG chỉ còn mấy người, đi theo về đến Phù kiều.
TƯ MÃ Ý cho 3 anh em TÀO SẢNG hãy về nhà riêng, còn các quan đi theo thì tống giam chờ sắc chỉ.
Anh em TÀO SẢNG khi vào đến thành,không còn 1 người nào theo hầu.
HOÀN PHẠM về đến cầu, TƯ MÃ Ý ngồi trên ngựa trỏ roi mà rằng :
_ HOÀN đại phu cớ sao lại thế?
HOÀN PHẠM cúi mặt xuống không nói gi, rồi đi vào thành.
TƯ MÃ Ý rước xa giá nhổ trại về Lạc Dương.Ba anh em TÀO SẢNG về đến nhà, TƯ MÃ Ý dùng khóa to khóa cửa lại, sai 800 dân phu vây giữ.
TÀO SẢNG trong bụng lo buồn. Hi nói :
_ Trong nhà ta thiếu lương ăn, anh thử viết thư đưa cho Thái phó vay lương. Nếu y đem đỡ cho ta, thì tất không nỡ hại nhau.
SẢNG liền viết thư sai người cầm đến. TƯ MÃ Ý xem thư, cho người vận 100 hộc lương vào phủ TÀO SẢNG.
SẢNG mừng nói :
_TƯ MÃ CÔNG hẳn không bụng nào nỡ hại ta !
Từ đó khôpng lo gì nữa.
TƯ MÃ Ý trước hết bắt TRƯƠNG ĐƯƠNG tống ngục tra hỏi. ĐƯƠNG xưng ra bọn HÀ YẾN,ĐẶNG DƯƠNG, LÝ THẮNG , TẤT PHẠM, ĐINH BẬT năm người đồng mưu phản nghịch. Ý lấy khẩu cung , rồi sai bắt bọn HÀ YẾN tra hỏi minh bạch , cả bọn cùng xưng là trong 3 tháng nữa thì làm phản. Ý sai đòng gông ráo cả lại.
Tướng giữ cửa thành là TƯ PHIÊN tố cáo HOÀN PHẠM trá xưng phụng chiếu ra thành, nói là thái phó làm phản.
Ý nói :
_ Vu cho người làm phản , tội cũng như làm phản.
Liền sai bắt cả bọn HOÀN PHẠM bỏ ngục. Rồi bắt 3 anh em TÀO SẢNG và các người phạm tội, cùng cả 3 họ điệu ra ngoài chợ chém sạch. Bao nhiêu của cải tịch thu bỏ kho làm của công.


LẠM BÀN :

1/. ngay cả KHỔNG MINH cũng kiêng mặt TƯ MÃ Ý , rõ ràng TÀO SẢNG không phải là đối thủ của Ý
2/. TÀO SẢNG danh vọng đã lên đến cực điểm : Nắm hết binh quyền , cao sang , xa hoa...chủ quan không hiểu được âm mưu TƯ MÃ Ý , thiếu phòng bị, lại còn cao hứng kéo
quân ra khỏi hang ổ để săn bắn.
Khi gặp nguy biến,nhu nhược sợ chết,không nghe lời mưu sĩ, thiếu quyết đoán.
Đúng như lời TƯỞNG TẾ : Con ngựa hèn tham nắm đậu trong chuồng, có túi khôn cũng không dùng được.
khi đắc thế khoác lác la mắng cấp dưới, tiền hô hậu ủng, lúc thất bại run rẩy khóc lóc, bọn tay chân thuộc hạ lãng ra. Chịu nhục xin gạo ăn để cầu sống, ảo tưởng kẻ thù sẽ tha mạng nhưng kết cuc cũng bị chém giửa chợ.
3/.Ngoạn mục là TƯ MÃ Ý cáo quan, giả bệnh,giả nghễnh ngãng, yếu đuối như sắp chết, còn trối trăn...nhưng khi có cơ hội thì sáng suốt sắp đặt đâu vào đấy, cướp lại được binh quyền địa vị.
Thủ đoạn chính trị thật ghê gớm. 1 màn kịch giả bệnh, giả sắp chết, thay đổi, khuynh đảo cả 1 thế lực của 1 triều đình.
4/. Đáng buồn là HOÀN PHẠM được gọi là túi khôn chẳng khôn chút nào, khi biết SẢNG đụt như chó lợn thì quá muộn.
5/. Quỷ Cốc còn cho rằng âm thì thối tàng, không hành động. Lẽ thường thì Âm cực điểm sẽ
chuyển hóa thành Dương, đó là thời cơ nhanh chóng hành động.
6/. Bàn về kế này người ta cho rằng bắt chước 1 loài cá gọi là mê ngư, cá sống trong bùn.Khi mặt nước có biến động rúc nhanh xuống bùn bất động; nhịn ăn hàng năm, sáu tháng ; người ta không phát hiện được nên nó sống sót va sống rất lâu.

 

4/.TIÊN ĐẢ HẬU MA : Trước đánh sau bắt
Tiên đả hậu ma là trước đánh sau bắt. ví như muốn bắt cá , trước là khuấy lên cho đục nước làm cho cá mất phương hướng, sau đó là mò bắt cá.
Dựa vào nguyên lý Âm Dương, đóng mở để quan sát, thẩm định ; đo lường lực lượng, khả năng ; kỹ năng, kỹ xảo ; sở trường, sở đoản của đối phương.
Muốn đánh bại 1 đạo quân thì làm cho đạo quân ấy mệt mõi, tiêu tan ý chí sau đó mới tiến quân.
Muốn thôn tính 1 nước thì phải làm cho nước đó rối loạn, vua không phân biệt được phải trái,chính tà,trung nịnh,quần thần và nhân dân mất niềm tin.
Muốn cho 1 nước thần phục mình phải cắt đứt chỗ dựa của nước đó.


Ví dụ A : DIỆT MẦM SỰ TRÁO TRỞ

Nước TRỊNH khi theo SỞ lúc theo TẤN, lúc theo SỞ . TẤN ĐIỆU CÔNG giận lắm, hỏi các quan đại phu rằng :
_ Người nước TRỊNH phản phúc, quân ta đến thì theo, quân ta về lại phản, nay muốn cho người nước TRỊNH 1 lòng theo ta thì nên dùng kế gì ?
TUÂN DINH hiến kế rằng :
_ Nước TẤN ta không thu phục được nước TRỊNh là vì người nước SỞ cố sức mà tranh nước TRỊNh với ta.
Nay muốn thu phục được nước TRỊNH thì tất phải đối địch với SỞ , mà muốn làm cho SỞ khốn đốn thì nên tìm kế dĩ dật đãi lao,lấy khoẻ mà đánh mỏi mệt.
TẤN ĐIỆU CÔNG nói :
_ Thế nào là dĩ dật đãi lao ?
TUÂN DINH nói :
_ Quân nước mình không nên dùng luôn , dùng luôn thì người mình nhọc ; quân chư hầu không nên điều động luôn , điều động luôn thì chư hầu oán. Trong nhọc mà ngoài oán , cứ như thế thì không bao giờ thắng được SỞ.
Tôi xin đem quân ta chia ra làm 3 đạo , mỗi đạo quân có mấy nước chư hầu phụ thuộc vào , thay đổi nhau mà đối địch với quân SỞ , SỞ tiến thì ta lui , SỞ lui thì ta tiến , đem 1 đạo quân của nước ta mà làm cho cả nước SỞ không lúc nảo được yên , như thế thì nước SỞ khốn quẩn , bấy giờ nước TRỊNH tất phải 1 lòng theo ta.
Khi xuất quân TUÂN DINH truyền lệnh rằng :
_ Ba đạo quân cứ thay phiên nhau đánh TRỊNH , hễ TRỊNH chịu giảng hòa thì lại rút về ngay , nhất thiết không được giao chiến với quân SỞ.
Quả nhiên sau này , TRỊNH không dám phản bội nước TẤN.


LẠM BÀN :
1/. Sở dĩ nước TRỊNH tại sao sớm đầu tối đánh là do nước SỞ ủng hộ,lôi kéo.SỞ là chỗ dựa của TRỊNH , SỞ biến loạn thì không bảo vệ được TRỊNH , buộc TRỊNh phải cầu hòa với TẤN.
2/. Trước đánh SỞ ( tiên đả ) làm cho nước SỞ mỏi mệt. Sau mới bắt ( hậu ma ) TRỊNH chui vào rọ cầu hòa.
3/. Kế này còn có tên gọi khác là dĩ dật đãi lao ,lấy sự nghĩ ngơi, khoẻ mạnh đánh người mỏi mệt. Làm tiêu hao nhuệ khí , sức lực của đối phương , đợi đối phương tinh thần sa sút , rối loạn thì tiến đánh.
Với kế này , thời Đông Tấn, TẠ HUYỀN _ tướng nước Tấn _ đã đánh tan tác 90 vạn quân của BỐ KIÊN_tướng nước TẦN _ tại sông Phì Thủy.



Ví dụ B : TIÊU TAN DŨNG KHÍ

TRANG CÔNG và TÀO QUỆ đi trên 1 chiếc binh xa ra trận đánh nhau với quân Tề tại Trường Thược.
TRANG CÔNG chuẩn bị đánh trống trận ra lệnh công kích ,TÀO QUỆ nói :
_ Chưa đến lúc , chưa được hạ lệnh xuất kích .
Quân Tề đánh 3 lần trống trận , TÀO QUỆ nói :
_ Có thể đánh trống trận và phát lệnh công kích rồi !
Quân Tề thua trận tan rã , TRANG CÔNG chuẩn bị truy kích , TÀO QUỆ nói :
_ Chậm 1 chút.
TÀO QUỆ xuống xe kiểm tra dấu vết binh xa của quân Tề , leo lên thành xe nhìn ra nơi xa xa , rồi nói rằng :
_ Được rồi !
Thế là TRANG CÔNG hạ lệnh truy kích quân Tề.

LỜI BÀN CỦA TÀO QUỆ :

Sau khi đánh thắng trận. TRANG CÔNG hỏi TÀO QUỆ vì sao làm như vậy , TÀO QUỆ trả lời :
_Về việc đánh nhau cần phải có dũng khí . Lần thứ nhất đánh trống trận
để lấy dũng khí quân đội . Đánh trống trận lần thứ hai thì dũng khí đang hăng sẽ tàn lụi dần . Đến lần trống trận thứ ba thì dũng khí quân đội sẽ mất hết. Dũng
khí của quân Tề xuống hết, trái lại, dũng khí của quân ta tràn đầy cho nên chúng
ta đánh bại được quân Tề . Nước lớn là khó dự liệu ; e rằng họ giả vờ tháo chạy
rồi nằm lại mai phục . Tôi xuống xe xem thấy vết xe của quân Tề rất lộn xộn , leo lên cao thấy quân kỳ của họ cái nằm ngang cái nằm dọc, nên tôi phán đoán rằng không phải quân Tề giả bộ tháo chạy để dụ chúng ta, nên mới bắt đầu hạ lệnh truy đuổi chúng


CHƯƠNG HAI

SÁCH PHẢN ỨNG

( PHẢN ỨNG CHI SÁCH )

 


1/. Ngày xưa, người ta săn muông thú trước là giăng bẫy ,bủa lưới, sau đó người ta ném đá hay đánh vào đá hoặc 1 vật gì đó , làm cho muông thú hoảng sợ , phản ứng , chạy ra khỏi hang ổ , nơi ẩn nấp và sa vào lưới.
Do đó , có thành ngữ đầu thạch vấn lộ , ném đá hỏi đường. Là đánh động sau đó quan sát phản ứng, thăm dò động tĩnh của đối phương và từ đó ra tay hành động.
2/. Thuật phản ứng dựa trên cơ sở động và tĩnh của Âm Dương ; trên quy luật đồng thanh thì hô ứng ; cùng 1 đạo , cùng 1 đường lối thì đồng quy với nhau, cùng quy về 1 mối ( đồng thanh tương ứng , đồng khí tương cầu ).
3/.Thuật phản ứng được áp dụng trên nhiều lĩnh vực :
a_Dùng để ôn chuyện cũ hiểu chuyện mới, ôn cố tri tân :
Phản là biết quá khứ, Ứng là biết hiện tại.
Những gì hợp với hiện tại thì giữ gìn và ứng dụng ; cái gì không còn thích hợp với hiện tại thì loại trừ.
Phải tìm hiểu quá khứ mới hiểu được hiện tại , hiểu được hiện tại mới biết được tương lai.
b_Dùng để hiểu mình , hiểu người :
Muốn hiểu rõ người khác thì trước hết phải tự hiểu chính mình. Hiểu người là trí , hiểu mình là sáng suốt. Có sáng suốt mới sinh ra trí, và có trí mới sinh ra sự sáng suốt.
c_Về phương diện ngoại giao, du thuyết và hành động :
Muốn đối phương nói thì ta phải im lặng , muốn đối phương duỗi thì ta phải co , muốn đối phương cao thì ta phải thấp , muốn đối phương thu lại thì ta phải phóng ra.
d_Trong đối thoại :
Khi đối phương phát ngôn ta nên lắng nghe và lưu ý , xét kỹ về thái độ , sự tình , đạo lý , sách lược . Thái độ là vui , buồn, giận , ghét....
Lý luận là chỗ nào hợp lý,chỗ nào không hợp lý .Sự tình chỗ nào là thật ,chỗ nào là giả
Đạo lý , sách lược thì đâu là sự tương đồng, đâu là sự không tương đồng.
e_ Về hùng biện và tranh luận :
Dựa vào quy luật đồng thanh hô ứng, tạo sự hô ứng giửa ta với người đối thoại . Thu hút đối phương vào cuộc tranh luận , đối thoại như nam châm thu hút sắt ,như móc mồi cho cá cắn câu , giăng lưới để săn bắt muông thú. Mục đích dẫn dụ đối phương nói lên sự thật , bộc lộ ý chí , xu hướng và cuối cùng đối phương phải theo sách lược đường lối do ta đề xướng.
4/. khi sử dụng thuật phản ứng :
Phải cực kỳ thuần thục , chính xác như Hậu Nghệ bắn tên ; tự nhiên , linh động như cá bơi lội trong nước thì mới thành công.
Như đã nói : Dương gọi là quân đạo hoặc là thiên đạo ,tượng hình tròn .Âm gọi là thần đạo hoặc quân đạo hoặc địa đạo , tượng hình vuông.
Sau khi dùng thiên đạo để phát hiện , dẫn dụ đối phương thì dùng địa đạo để phụng sự cho thiên đạo.
5/. Thuật phản ứng gồm có các mưu kế :
_ Dĩ giả cầu chân ( lấy giả làm thật )
_Đầu thạch vấn lộ ( ném đá hỏi đường )
_ Dĩ tĩnh chế động ( lấy tịnh chế động )
_ Giả si bất điên ( giả ngu nhưng không điên )

 

KẾ THỨ NHẤT : DĨ GIẢ CẦU CHÂN ( lấy giả làm thật )

Dĩ giả cầu chân là lấy chuyện giả làm chuyện thật để đánh vào tâm lý của đối phương kích động đối phương.
Kế này dựa trên nguyên tắc đồng thanh tương ứng hoặc còn gọi là đồng thanh tương hô thực lý đồng quy.
Xét cho cùng ai cũng có danh dự, quyền lợi, cuộc sống riêng. khi quyền lợi, danh dự , cuộc sống riêng bị xúc phạm , hoặc đe dọa nặng nề thì dễ dàng phản ứng bộc lộ cá tính, quyết tâm bảo vệ danh dự, quyền lợi và cuộc sống của mình.

THÍ DỤ A : MỘT NỀN ĐỒNG TƯỚC
Trong việc liên kết với LƯU BỊ để đánh TÀO , Ngô Quốc thái thấy TÔN QUYỀN nghi hoặc không quyết, mới bảo :
_Khi hấp hối mẹ con dặn phải theo lời di chúc của BÁ PHÙ , là phàm công việc trong nước không quyết định thì hỏi TRƯƠNG CHIÊU , việc bên ngoài không quyết định được thì hỏi CHU DU. Nay sao không cho mời CHU DU về mà hỏi.
QUYỀN mừng lắm , lập tức sai sứ ra Phiên Dương mời CHU DU về bàn việc.

* * * * *

Chiều hôm ấy được tin LỖ TÚC đưa KHỔNG MINH đến , Du ra tận cửa đón vào. Thi lễ xong , chia ngôi chủ khách ngồi chơi , TÚC hỏi CHU DU rằng :
_ Nay TÀO THÁO huy động lực lượng lấn chiếm miền Nam , hòa với đánh chỉ có 2 con đường. Chúa Công chưa quyết định , cốt đợi tướng quân. Ý kiến tướng quân thế nào?
DU nói :
_ TÀO THÁO mượn tiếng thiên tử , thì không nên kháng cự ; vả lại thế TÀO to lắm , chưa dễ địch nổi. Đánh thì tất thua , mà hàng thì dễ yên. Ý ta đã quyết, ngày mai ta vào hầu Chúa Công xin sai sứ đi hàng TÀO.
LỖ TÚC ngạc nhiên nói :
_ Ông nói lầm rồi ! Cơ nghiệp Giang Đông đã trải qua 3 đời rồi, sao 1 chốc để vào tay người khác? TÔN BÁ PHÙ trước đã dặn phàm công việc ngoài phó thác cho tướng quân .
Chính lúc này phải trông cậy vào tướng quân giữ sao cho cơ nghiệp Đông Ngô vững như núi Thái Sơn. Chẳng dè tướng quân cũng theo lời mấy đứa...hèn nhát đó sao?
DU nói :
_Sáu quận Giang Đông , nhân dân đông đúc biết bao. Nay nếu bị nạn binh đao tất quy oán cho ta , nên ta nhất định xin hàng.
LỖ TÚC nói :
_ Không thể được . Tướng quân là bậc đại anh hùng , Đông Ngô là nơi hiểm trở , vị tất TÀO THÁO đã làm mưa làm gió gì được !
Hai người cùng tranh luận , KHỔNG MINH chỉ thu tay cười mát . DU hỏi :
_ Tiên sinh có việc gì mà phải cười ?
KHỔNG MINH đáp :
_ Tôi có cười gì đâu , chỉ cười TỬ KÍNH không thức thời.
TÚC hỏi ;
_ Sao tiên sinh bảo tôi không thức thời ?
KHỔNG MINH đáp :
_CÔNG CẨN hàng TÀO rất hợp lẽ.
DU nói :
_ KHỔNG MINH là người thức thời, tất 1 lòng như ta.
TÚC nói :
_ KHỔNG MINH ! Sao ông lại nói thế ?
KHỔNG MINH đáp :
_ THÁO rất giỏi việc dùng binh , thiên hạ không ai địch nổi. Trước chỉ có LÃ BỐ , VIÊN THIỆU , VIÊN THUẬT , LƯU BIỂU là dám chống cự . Mấy người ấy đều bị giết cả rồi, thiên hạ không còn ai nữa ! Chỉ có LƯU DỰ CHÂU là không thức thời , mới dám gượng gạo chống lại , nay thân cô thế cô ở đất Giang Hạ , mất còn chưa hiểu ra sao? Tướng quân quyết kế hàng TÀO , để bảo toàn vợ con, phú quý ; còn như vận nước đổi thay, phó mặc trời có chi đáng tiếc !
LỖ TÚC giận lắm nói :
_ Ngươi muốn cho chủ ta uốn gối chịu nhục với lũ giặc nước à?
KHỔNG MINH nói :
_ Ta có 1 kế không cần đến khiêng dê gánh rượu , không phải nộp nước dâng ấn ; không cần phải thân sang sông ; chỉ sai sứ với chiếc thuyền nhẹ đưa 2 người sang sông mà thôi. TÀO THÁO mà được 2 người ấy , thì lập tức trăm vạn quân cũng cởi giáp , cuốn cờ rút lui ngay.
DU hỏi :
_ Dùng 2 người nào mà lui được quân TÀO ?
KHỔNG MINH nói :
_ Đất Giang Đông mà bỏ 2 người ấy bất quá như cây to rụng cái lá , kho lớn mất 1 hạt thóc . Nhưng TÀO THÁO được 2 người ấy , lập tức sẽ cuốn cờ cởi giáp , vui mừng rút lui ngay.
DU lại hỏi :
_ Hai người nào ?
KHỔNG MINH nói :
_ Khi tôi còn ở Long Trung , nghe tin TÀO THÁO mới dựng cái đài ở trên sông Chương Hà , gọi là đài Đồng Tước , trang hoàng lịch sự , rồi kén những con gái đẹp trong thiên hạ nhốt đầy trong đó .
THÁO vốn là đồ hiếu sắc , biết bên Giang Đông ông Kiếu Công có 2 người con gái, con lớn là ĐẠI KIỀU , con nhỏ là TIỂU KIỀU . Hai người đều nhan sắc chim sa cá lặn ,
hoa nhường nguyệt thẹn . THÁO từng thề rằng : Một là ta thề đạp bằng 4 bể, dựng nên nghiệp hoàng đế ; Hai là lấy được 2 chị em nàng KIỀU ở Giang Đông , đem về đài Đồng Tước để vui tuổi già, thì dẫu chết cũng không tiếc gì đời nữa !
Nay sao không tìm Kiều Công , đem nghìn vàng mua lấy 2 người con gái rồi sai
người mang dâng cho TÀO THÁO. THÁO mãn nguyện tất rút quân về . Đó cũng là kế PHẠM LÃI dâng TÂY THI cho NGÔ VƯƠNG , sao không kíp làm đi ?
DU hỏi :
_ Có gì làm chứng về việc TÀO THÁO muốn được 2 nàng KIỀU không ?
KHỔNG MINH nói :
_ Con nhỏ TÀO THÁO là TÀO THỰC , tự là TỬ KIẾN , có tài đặt bút thành văn. THÁO sai làm 1 bài phú, gọi là phú đài Đồng Tước. Ý chính trong bài phú ấy , chỉ nói về nhà TÀO nếu làm thiên tử thì sẽ lấy cho kỳ được 2 nàng KIỀU.
DU hỏi :
_ Ông có nhớ bài phú ấy không ?
KHỔNG MINH nói :
_ Tôi thích lời văn hoa mỹ của bài ấy , nên cũng thuộc .
DU hỏi :
_ Xin thử đọc cho nghe.
KHỔNG MINH đọc luôn bài phú , trong bài có mấy câu :
Lập song đài ư tả hữu hề !
Hữu Ngọc Long dữ Kim Phụng ;
Lãm nhị KIỀU ư Đông Nam hề !
Lạc chiêu tịch chí dữ cộng .
tạm dịch :
Dựng 2 đài bên trái bên phải
Có đài Ngọc Long, có đài Kim Phụng
Nhốt 2 nàng KIỀU bên Đông Nam
Để sớm chiều cùng vui vầy.
CHU DU nghe xong mấy câu ấy, đỏ mặt tía tai ,đứng phắt dậy trỏ tay về phương Bắc mà mắng rằng :
_ Thằng giặc TÀO này khinh ta quá chừng !
KHỔNG MINH vội ngăn lại :
_ Ngày xưa chúa rợ Hung Nô hay xâm lấn bờ cõi , thiên tử nhà Hán còn phải đem công chúa gả cho nó , để cầu hòa , nay tướng quân tiếc làm chi hai con gái thường dân ấy ?
DU nói :
_ Ông chưa rõ : ĐẠI KIỀU là vợ TÔN BÁ PHÙ , TIỂU KIỀU là vợ DU đó .
KHỔNG MINH giả vờ sợ sệt nói :
_ Tôi thật vô tình , nói năng lỗ mỗ , tội thật đáng chết ! đáng chết !
CHU DU nói :
_ Ta thề cùng thằng giặc già một còn một mất !
KHỔNG MINH nói :
_ Tướng quân nên nghĩ cho chín , kẻo hối về sau .
DU nói :
_ Ta đã vâng lời TÔN BÁ PHÙ ủy thác , có lẽ đâu hạ mình mà hàng TÀO.Vừa rồi ta nói như thế , là thử lòng nhau đó thôi. Từ khi ta ở Phiên Duông về đây , vẫn có chủ trương đánh miền Bắc . Dù dao kề đầu cũng không lay được . Xin KHỔNG MINH giùp ta 1 tay , cùng phá giặc TÀO .
KHỔNG MINH nói :
_ Nếu ngài không bỏ LƯỢNG , thì LƯỢNG xin đem hết lòng khuyển mã , sớm tối vâng lời sai khiến .
DU nói :
_ Ngày mai ta vào yết kiến Chúa Công, sẽ bàn ngay việc cất quân .
KHỔNG MINH và LỖ TÚC từ biệt CHU DU ra về .

LẠM BÀN : Đây là cuộc gặp gỡ lần đầu hai kỳ tài thời Tam Quốc :GIA CÁT LƯỢNG và CHU DU.

1/. DU định muốn đánh nhưng chưa rõ lực lượng của TÀO THÁO , dấu ý nghĩ của mình nói hàng TÀO để thăm dò ý kiến của KHỔNG MINH ( thuật đóng mở ).
KHỔNG MINH tương kế tựu kế, dùng thuật đóng mở, khuyên CHU DU hàng , cố ý xem thường CHU DU không bằng những anh hùng hào kiệt của thời ấy , DU không phải là địch thủ của TÀO.
2/. Lồng trong thuật úp mở là thuật lấy giả làm thật, để đánh vào tâm lý CHU DU qua những bước khá rõ :
Cố tình đổi " nhị kiều" ( kiều là cầu ) ra " nhị KIỀU " ( ĐẠI KIỀU, TIỂU KIỀU )
Cố tình không biết ĐẠI KIỀU là vợ TÔN BÁ PHÙ , TIỂU KIỀU là vợ CHU DU.
Là 1 đại anh hùng tất nhiên CHU DU không thể bị xem thường , khinh miệt khi nghe TÀO THÁO muốn bắt vợ mình về nhốt ở Đồng Tước để hưởng lạc.
Danh dự bị xúc phạm, đời sống riêng tư bị đe dọa cho nên tức khí xung thiên, vô hình trung lọt vào bẫy của KHỔNG MINH .
KHỔNG MINH còn bồi thêm 1 đòn tâm lý nữa bằng cách hỏi CHU DU : Tướng quân nghĩ cho chín để khỏi hối về sau.
Thế là DU bày tỏ luôn ý định của mình , không còn úp mở : Vừa rồi ta nói thế, là thử lòng nhau đó thôi.
3/. Từ những bậc anh hùng đến những người bình thường ai cũng có lòng tự trọng , tự tôn , và tự ái cá nhân, có gia đình vợ con , quyền lợi riêng tư. Khi lòng tự trọng , tự ái, tự tôn bị chà đạp, vợ con gia đình bị xâm phạm, quyền lợi bị tước đoạt , tất nhiên có sự phản ứng , căm giận . Từ đó tìm cách chống lại hoặc trả thù.
4/. Sự giả dối, lừa dối của KHỔNG MINH được che đậy dưới lớp vỏ khôn khéo thật lợ hại, cộng với cơn giận của CHU DU thì ngọn lửa chiến tranh Nam Bắc bắt đầu bùng cháy .
5/. Kế dĩ giả cầu chân tương tự kế khích tướng . Khích động lòng người,chọc giận, chọc tức làm cho người ta tự ái đem hết sức lực ra để ganh đua hoặc tìm cách trả thù
Ví dụ : TÔ TẦN choc tức TRƯƠNG NGHI để TRƯƠNG NGHI tìm cách vào đất TẦN.
ĐỘ THƯỢNG đời Hán tự đốt trại mình để khích động lòng quân sĩ.
HÍ DỤ B : KHI VÀNG BẠC THÀNH TRO

ĐỘ THƯỢNG muốn dẹp 2 tên cướp , thế lực khá mạnh , ẩn trong rừng sâu lá PHAN HỒNG và PHỐC DƯƠNG , nhưng lâu ngày không thể nào đánh dẹp được.
Quân lính của ĐỘ THƯỢNG trong thời gian hành quân , ai nấy cũng vơ vét được 1 số vàng bạc của cải cất dấu trong trại ; lương thực khá dồi dào, lại thêm hàng ngày săn bắn kiếm được nhiều muông thú nên đời sống đầy đủ, ít ai nghĩ đến chuyện đánh giặc.
Một hôm quân sĩ theo lệ vào rừng săn bắn , ĐỘ THƯỢNG lén tự đốt sạch cả doanh trại và phao tin là quân của 2 tên cướp PHAN HỒNG và PHỐC DƯƠNG đột nhập tấn công.
Quân lính ĐỘ THƯỢNG săn về thấy của cải , vàng bạc lương thực thành đống tro , ai nấy đều tức giận.
Biết là lòng căm giận của binh sĩ lên cao , ĐỘ THƯỢNG ra lệnh xuất kích.
Quân ĐỘ THƯỢNG hăng hái sục sạo truy lùng.
Bị tấn công bất ngờ và táo bạo , bọn cướp không kịp trở tay, bị đánh tan tác. PHAN HỒNG và PHỐC DƯƠNG chết trong đám loạn quân.

 

KẾ THỨ HAI : ĐẦU THẠCH VẤN LỘ (ném đá hỏi đường ).

Đầu thạch vấn lộ tượng như là ném đá hỏi đường. Trước là ném đá, sau đó là nghe ngóng sự động tĩnh, và cuối cùng là đi đến quyết định hành động cho thích hợp với hoàn cảnh.

THÍ DỤ A : GIÁ CÁI ĐẦU GIỬA CHỢ.

Từ đời TỀ TUYÊN VƯƠNG , TÔ TẦN được trọng dụng nên bọn tả hữ quý thích có nhiều người ghen ghét , đến đời MÂN VƯƠNG vẫn tin yêu TÔ TẦN.
Nhưng từ lúc MÂN VƯƠNG không nghe kế TÔ TẦN nữa, mà nghe kế của MẠNH THƯỜNG QUÂN ,đã có lòng ghen ghét TÔ TẦN , 1 tráng sĩ giắt đồ nhọn sắc lẻn vào đâm TÔ TẦN ở trong triều.
TÔ TẦN bị đâm thủng bụng , lấy tay bịt lại chạy tới kêu với MÂN VƯƠNG. MÂN VƯƠNG sai bắt hung thủ đã chạy thoát. TÔ TẦN nói :
_ Sau khi hạ thần đã chết , xin đại vương chém đầu hạ thần , cho người rao lên ở ngoài chợ rằng TÔ TẦN vì nước YÊN đến làm phản gián TỀ , nay may đã giết chết được TÔ TẦN rồi, có người nào biết được việc kín của TÔ TẦN đến tố cáo , sẽ thưởng cho ngàn vàng , như vậy có thể bắt được hung thủ. Nói xong , rút mủi nhọn ở trong bụng ra ,máu chảy đầy đất mà chết.
MÂN VƯƠNG nghe theo lời TÔ TẦN chém đầu TÔ TẦN đem hiệu lệnh ở trong chợ , bỗng có người đi qua dưới cái đầu , thấy có treo thưởng , liền khoe với mọi người rằng :
_ Kẻ giết TÔ TẦN là tôi đây !
Thị lại bèn bắt trói lại, dẫn vào nộp MÂN VƯƠNG , vua sai đem tra tấn , quả nhiên ra được người chủ mưu , trị tội tru diệt mất vài nhà.

LẠM BÀN :
1/. TÔ TẦN biết sau khi mình chết không dùng kế chặt đầu treo giửa chợ với tội phản gián cho TỀ, thì sẽ không bao giờ tìm ra hung thủ. Là thủ đoạn đầu thạch. Khi có người tự khoe mình giết TÔ TẦN để lãnh thưởng thì thủ phạm đã lộ ra , tượng như hỏi ra đường.
2/. Tương tự kế này là kế Đả thảo kinh xà , đập vào cỏ làm cho rắn sợ phải bò từ trong hang ra. Là cách dẫn dụ cho rắn ra khỏi động. Trong khi nghi hoặc không thấy rõ đối phương , thì đánh vào cỏ , tức là hành động do thám trinh sát , đe dọa , dẫn dụ...buộc đối phương kinh sợ phải lộ diện


THÍ DỤ B : TÁM LẠNG GẶP NỬA CÂN

CHU DU muốn lấy lại Kinh Châu nẩy ra 1 kế , nói với LỖ TÚC :
_ LƯU BỊ chết vợ tất nhiên phải lấy vợ khác. Chúa công có cô em gái can trường lắm ,luôn có vài trăm thị tỳ cắp gươm hầu bên cạnh. Trong phòng bày la liệt đủ thứ vũ khí , ngay đàn ông cũng không giỏi bằng.
Ta dâng thư lên Chúa công xin cho người sang Kinh Châu làm mối, dụ LƯU BỊ sang đính hôn rồi lừa hắn đến Nam Từ , không gả người cho mà bắt giam lại. Đoạn sai người đến đòi Kinh Châu đánh đổi LƯU BỊ. Khi nào lấy được kinh Châu ta lại liệu. Như thế TỬ KÍNH không phải lo gì nữa !
LỖ TÚC bái tạ.
CHU DU viết thư,chọn thuyền tốc hành đưa LỖ TÚC sang Nam Từ ra mắt TÔN QUYỀN.
Đến nơi, trước hết TÚC trình bày việc Kinh Châu, và đưa tờ văn tự lên.
QUYỀN nói :
_ Sao ngươi hồ đồ thế? cái thứ văn tự này dùng được việc gì ?
TÚC nói :
_ Đô đốc có thư đệ trình , bảo dùng kế đó thì sẽ lấy lại được Kinh Châu.
QUYỀN xem xong , gật đầu mừng thầm , nghĩ bụng :
_ Ai có thể đi được nhỉ ?
Rồi sực nhớ ra , QUYỀN nói :
_ Chỉ có LÃ PHẠM mới làm nổi việc này.
Liền cho gọi LÃ PHẠM vào, bảo rằng :
_ Ta nghe LƯU HUYỀN ĐỨC mới góa vợ , ta có người em gái , muốn kén y làm rễ, kết thân với nhau, đồng tâm phá TÀO , để giúp nhà Hán.
Ngoài TỬ HÀNH ra , không ai có thể làm mối được, mong người sang ngay Kinh Châu cho ta !
LÃ PHẠM vâng mệnh , thu xếp thuyền bè mang theo mấy tên tùy tùng thẳng tới Kinh Châu.
* * * * *

Lại nói , HUYỀN ĐỨC từ khi mất CAM phu nhân , ngày đêm buồn rầu. Một hôm, đang ngồi nói chuyện với KHỔNG MINH , sực có tin báo Đông Ngô sai LÃ PHẠM đến.
KHỔNG MINH cười nói :
_ Đây lại là mưu mô gì của CHU DU về chuyện Kinh Châu thôi ! Tôi ngồi nghe ở sau bình phong. Sứ giả có nói việc gì, Chúa công cứ việc nhận lời và giữ họ nghĩ ngơi ở nhà khách , rồi sau sẽ hay.
HUYỀN ĐỨC cho mời LÃ PHẠM vào .
Chào hỏi xong, trà nước đâu đấy , HUYỀN ĐỨC hỏi :
_ TỬ HÀNH lại đây chắc có việc gì dạy bảo ?
PHẠM nói :
_ Tôi nghe Hoàng Thúc thất ngẫu , nay có 1 nơi xứng đáng lắm , nên mạnh dạn sang đây làm mối , chưa biết ý Hoàng Thúc thế nào ?
HUYỀN ĐỨC nói :
_ Nửa đời góa vợ là 1 sự rất không may , nay nấm mồ còn chưa xanh cỏ , sao dám vội bàn chuyện lấy vợ khác ?
PHẠM nói :
_ Người ta có vợ , như nhà có kèo , không nên nửa chừng bỏ đạo nhân luân.
Chúa công tôi có 1 cô em gái có nhan sắc , lại hiền hậu , có thể nâng khăn sửa túi đỡ ngài được.
Nếu 2 nhà kết thân Tần , Tấn với nhau, thì giặc TÀO chắc không dám nhìn ngó đến
phía đông nam này nữa.
Việc này công tư đều vẹn cả , xin Hoàng Thúc chớ ngại ! Song Ngô Quốc Thái tôi yêu thương cô gái út lắm , không muốn gả chồng xa , chỉ muốn mời Hoàng Thúc sang Đông Ngô làm lễ thành thân.
HUYỀN ĐỨC hỏi :
_ Việc này Ngô Hầu có biết không ?
PHẠM đáp :
_ Chưa bẩm với Ngô Hầu , có đâu tôi dám đến đây.
HUYỀN ĐỨC nói :
_ Ta đã nửa đời người , đầu tóc hoa râm, em gái Ngô Hầu đang độ son trẻ , e không xứng đôi phải lứa.
_ Em Ngô Hầu tuy là con gái , nhưng chí khí hơn cả nam nhi. Cô ấy thường nói :"Không phải người anh hùng nhất thiên hạ , ta không thèm lấy ". Hoàng Thúc tiếng tăm lừng lẫy cả 4 bể , chính là thục nữ sánh với người quân tử ,có ngại gì tuổi nhiều hay ít ?
HUYỀN ĐỨC nói ;
_ Vậy ông hãy ở chơi đây , đến mai sẽ xin nói lại.
Hôm ấy , HUYỀN ĐỨC mở tiệc khoản đãi LÃ PHẠM , rồi lưu lại nhà khách. Đến tối HUYỀN ĐỨC bàn với KHỔNG MINH. KHỔNG MINH nói :
_ Ý tứ của họ thế nào , tôi đã biết cả rồi. Tôi vừa bói Dịch được 1 quẻ đại cát. Chúa công cứ nhận lời đi. Mai nên sai TÔN CÀN đi theo LÃ PHẠM sang thưa chuyện với Ngô Hầu ; hứa hẹn xong rồi ta sẽ chọn ngày sang cưới.
HUYỀN ĐỨC nói :
_ CHU DU lập mưu muốn hại ta , sao ta lại đem mình vào nơi nguy hiểm ?
KHỔNG MINH cười , nói :
_ CHU DU tuy giỏi dùng mưu , nhưng che sao được mắt tôi. Tôi chỉ dùng 1 chút mẹo nhỏ , khiến CHU DU không thò được ngón gì , mà em gái Ngô Hầu lại về tay Chúa công , Kinh Châu cũng vững như bàn thạch.
HUYỀN ĐỨC vẫn còn hoài nghi ; KHỔNG MINH sai ngay TÔN CÀN cứ việc sang Giang Nam nói việc hôn nhân, TÔN CÀN vâng mệnh cùng đi với LÃ PHẠM sang ra mắt TÔN QUYỀN
QUYỀN nói :
_ Ta muốn gả em gái cho HUYỀN ĐỨC , chớ không có bụng dạ nào khác.
TÔN CÀN lạy tạ , về thưa chuyện lại với HUYỀN ĐỨC , nói Ngô hầu chỉ mong Chúa công sang làm lễ thành hôn, HUYỀN ĐỨC ngại ngùng không muốn đi. KHỔNG MINH nói :
_ Tôi đã định sẵn 3 kế , việc này phi TỬ LONG đi không xong !
Bèn gọi TỬ LONG đến cạnh, ghé tai dặn rằng :
_ Ngươi bảo vệ Chúa công sang Đông Ngô , nên nhận lấy 3 cẩm nang này , trong đó có 3 kế rất hay , cứ theo thứ tự mà làm.
Nói đoạn , đưa 3 cẩm nang cho VÂN giấu kỹ trong người. Đoạn KHỔNG MINH sai người sang Đông Ngô dâng lễ cưới trước , lễ vật đầy đủ không thiếu gì.
Tháng 10 mùa Đông , năm Kiến An thứ 14 , HUYỀN ĐỨC cùng với TRIỆU VÂN , TÔN CÀN thu xếp chục chiếc thuyền tốc hành , mang theo 500 quân sĩ , dời Kinh Châu sang Nam Từ. Mọi việc ở Kinh Châu đều giao cho KHỔNG MINH trông coi.
HUYỀN ĐỨC trong lòng áy náy không yên. Khi thuyền đã đến Nam Từ , VÂN tự nhủ :
_ Quân sư trao cho 3 kế hay , dặn cứ thứ tự làm theo , nay đã đến đây , phải mở túi thứ nhất ra xem mới được !
VÂN bèn mở túi thứ nhất ra xem. Xem xong , VÂN gọi 500 quân sĩ , dặn bảo các việc. Lại nói với HUYỀN ĐỨC vào ra mắt KIỀU quốc lão trước. Cụ này nguyên là cha 2 nàng KIỀU,
nhà ở Nam Từ.
HUYỀN ĐỨC mang dê và rượu vào bái kiến Quốc lão, thuật lại việc LÃ PHẠM sang làm mối TÔN phu nhân. 500 quân sĩ , người áo thắm , kẻ quần điều , tấp nập ra phố mua bán đồ vật , nói toáng lên rằng HUYỀN ĐỨC vào làm rễ Đông Ngô. Mọi người trong thành đều biết chuyện cả.
TÔN QUYỀN thấy HUYỀN ĐỨC đã đến , sai LÃ PHẠM ra đón tiếp , mời đến nhà khách nghỉ ngơi.
Đây nói KIỀU Quốc lão gặp HUYỀN ĐỨC xong , vào ngay trong cung chúc mừng Ngô Quốc Thái.
Quốc Thái hỏi :
_ Có việc gì mà mừng?
KIỀU Quốc lão đáp :
_ Cô em đã gả cho HUYỀN ĐỨC làm phu nhân, nay chàng rễ đã sang đây rồi, sao còn giấu tôi ?
Quốc Thái ngạc nhiên nói :
_ Quả thật tôi không biết gì hết !
Lập tức 1 mặt Quốc Thái cho gọi Ngô Hầu lại hỏi xem hư thực ra sao, 1 mặt cho người ra phố xá nghe ngóng tình hình
Mọi người đều nói rằng :
_ Quả có việc ấy thực ! Chàng rễ mới đã nghĩ ở nhà khách , 500 quân sĩ đi theo đang tíu tít mua sắm dê lợn , hoa quả để sửa lễ kết hôn. Bên nhà gái là LÃ PHẠM , bên nhà trai thì TÔN CÀN , hai người làm mối , hiện đã ở cả nơi nhà khách tiếp đãi nhau.
Quốc Thái giật mình. Một lát, TÔN QUYỀN vào, Quốc Thái cứ đấm bụng khóc ầm lên. QUYỀN hỏi :
_ sao thân mẫu phiền não thế?
Quốc Thái nói :
_ Mày thật không coi tao ra gì nữa rồi ! Khi chị ta lâm chung , dặn mày những câu gì ?
QUYỀN thất kinh , hỏi :
_ Mẫu thân có điều gì cứ cho con biết , sao lại khổ sở như vậy ?
Quốc Thái nói :
_ Trai khôn dựng vợ , gái lớn gả chồng , vẫn là lẽ thường xưa nay. Tao là mẹ mày , có việc gì cũng phải nói với tao trước mới phải chứ ! Nay mày đem em gả cho LƯU HUYỀN ĐỨC , sao mày lại giấu tao? Con gái phải quyền ở tao chớ?
QUYỀN giật mình , hỏi :
_ Mẫu thân nghe chuyện ấy ở đâu vậy ?
_ Trừ khi không làm thì mới không biết thôi. Nay trăm họ trong thành , ai ai cũng biết cả , mày lại còn giấu diếm gì?
KIỀU Quốc lão nói :
_ Lão biết việc này đã mấy hôm nay rồi , nay vào mừng đấy !
QUYỀN nói :
_ Không phải đâu ! Đó là kế của CHU DU , vì muốn lấy Kinh Châu, cho nên mượn tiếng như thế , cốt lừa LƯU BỊ đến đây , bắt giam lại , đổi lấy Kinh Châu , nếu không nghe thì giết đi. Đó là mưu kế chớ không phải là sự thật !
Quốc Thái nổi giận , mắng CHU DU rằng :
_ Ngươi làm đại đô đốc 6 quận , 81 châu, không nghĩ được 1 mưu gì để lấy Kinh Châu mà phải mượn tiếng con gái bà , dùng kế mỹ nhân?
LƯU BỊ bị giết , con bà chưa chồng , mà té ra mang tiếng góa bụa, còn ai lấy nữa , có phải lỡ cả 1 đời con gái bà không? Thế cũng đòi lập mưu với mẹo !
KIỀU Quốc lão nói :
_ Nếu dùng kế ấy, dù có lấy lại được Kinh Châu , cũng bị thiên hạ chê cười !
TÔN QUYỀN ngồi im thin thít. Quốc Thái thì cứ chửi mắng CHU DU không ngớt miệng. KIỀU Quốc lão can rằng :
_ Việc đã lỡ thế này rồi, nhưng xét LƯU HUYỀN ĐỨC cũng là tôn thân nhà Hán , chi bằng gả đi, kẻo mang tiếng xấu.
QUYỀN nói :
_ E không vừa đôi phải lứa.
KIỀU Quốc lão nói :
_ LƯU Hoàng thúc là hào kiệt đời nay, nếu kén được người rễ ấy cũng xứng đáng , không nhục gì cô em đâu !
Quốc Thái nói :
_ Ta chưa biết mặt LƯU Hoàng Thúc ra sao , ngày mai mời đến chùa Cam Lộ cho ta xem mặt. Nếu không vừa ý ta thì mặc cho bọn ngươi muốn làm thế nào thì làm. Nếu vừa ý thì ta gả quách con ta cho Hoàng Thúc cũng được.
TÔN QUYỀN vốn là người chí hiếu , thấy mẹ nói thế, liền vâng lời, trở ra gọi LÃ PHẠM bảo :
_ Ngày mai mở 1 yến tiệc ở nhà phương trượng chùa Cam Lộ , để Quốc Thái xem mặt LƯU BỊ.
LÃ PHẠM nói :
_ Sao không sai GIẢ HOA phục sẵn 300 quân đao phủ ở 2 bên hành lang. Hễ thấy Quốc Thái có ý không bằng lòng , thì nổi 1 tiếng hiệu cho quân phục đổ ra mà trói LƯU BỊ lại.
QUYỀN y lời , bảo GIẢ HOA sắp sẵn mọi việc đâu vào đấy , chỉ chờ xem ý Quốc Thái ra sao thôi.
Lại nói , KIỀU Quốc lão từ biệt Quốc Thái trở về , sai người báo tin cho HUYỀN ĐỨC :
_ Ngày mai , Ngô Hầu và Quốc Thái thân đến gặp mặt vậy phải để ý cẩn thận !
HUYỀN ĐỨC bàn với TÔN CÀN và KIỀU Quốc lão , đến trước chùa Cam Lộ , vào nhà phương trượng ngồi chơi. TÔN QUYỀN dẫn 1 ban mưu sĩ cùng đến, sai LÃ PHẠM ra nhà khách mời HUYỀN ĐỨC.
HUYỀN ĐỨC mặc áo giáp nhỏ ở trong, ngoài khoác cẩm bào. Các tùy tùng đeo kiếm đi theo , lên ngựa thẳng tới chùa Cam Lộ.TRIỆU VÂN mặc áo giáp, nai nịt gọn ghẽ , dẫn 500 quân bảo vệ. HUYỀN ĐỨC đến cửa chùa xuống ngựa vào ra mắt TÔN QUYỀN trước. QUYỀN thấy HUYỀN ĐỨC diện mạo phi thường đã có ý sợ.
Hai bên chào hỏi nhau rồi , vào nhà phương trượng ra mắt Quốc Thái. Quốc Thái thấy HUYỀN ĐỨC mừng lắm , nói với KIỀU Quốc lão :
_ người này thật đáng rễ ta lắm !
Quốc lão nói ;
_ HUYỀN ĐỨC có dáng như rồng như phượng, uy nghi đường bệ. Vả lại nhân nghĩa dội khắp thiên hạ. Quốc Thái được rễ hiền như thế , thật đáng chúc mừng !
HUYỀN ĐỨC lạy tạ , cùng ăn yến ở trong nhà phương trượng. Một lát, TỬ LONG đeo gươm đi vào , đứng bên cạnh HUYỀN ĐỨC. Quốc Thái hỏi người nào? HUYỀN ĐỨC bẩm :
_ Đó là TRIỆU VÂN ở Thường Sơn.
Quốc Thái nói :
_ Có phải là tướng cứu được A ĐẨU ở trận Đương Dương Trường Bản đó không?
HUYỀN ĐỨC nói :
_ Bẩm chính phải !
Quốc Thái khen :
_ Thế mới thực là tướng quân !
Nói rồi ban cho TRIỆU VÂN 1 cốc rượu. VÂN bảo HUYỀN ĐỨC rằng :
_ Tôi vừa đi xem xét ngoài hành lang , thấy có quân đao phủ mai phục trong phòng , tất nhiên có chuyện chẳng lành ; Chúa công nên kêu với Quốc Thái.
HUYỀN ĐỨC liền đến quỳ trước mặt Quốc Thái , khóc mà nói rằng :
_ Quốc Thái nhược bằng muốn giết LƯU BỊ , thì BỊ xin ra đây để chịu chết !
Quốc Thái hỏi :
_ Sao lại thế?
HUYỀN ĐỨC thưa :
_ Quân đao phủ mai phục 2 bên hành lang, không có ý giết BỊ thì để làm gì?
Quốc Thái nổi giận mắng TÔN QUYỀN rằng :
_ Nay HUYỀN ĐỨC đã là rễ ta , thì cũng như con ta , sao dám phục quân để mưu hại ?
QUYỀN chối không biết , gọi LÃ PHẠM ra hỏi. PHẠM lại đổ lỗi cho GIẢ HOA. HOA cũng nín lặng. Quốc Thái sai tả hữu lôi ra chém. HUYỀN ĐỨC can rằng :
_ Trong việc vui mừng không nên chém đại tướng. Nếu chém thì việc kết thân sẽ bất lợi. BỊ này khó ở đây hầu hạ Quốc Thái.
KIỀU Quốc lão cũng khuyên can. Quốc Thái mới mắng đuổi GIẢ HOA. Quân đao phủ tên nào tên nấy ôm đầu lủi thủi đi ra.

LẠM BÀN :
CHU DU dùng các kế chính :
1/. Mỹ nhân kế, gả em TÔN QUYỀN cho LƯU BỊ.
2/. Điệu hổ ly sơn , dụ LƯU BỊ rời Kinh Châu , sang Đông Ngô , nhân đó bắt giam làm con tin để đòi lại Kinh Châu.
3/. Đánh rắn dập đầu , quyết giết tên đầu não là LƯU BỊ.

KHỔNG MINH áp dụng các kế chính :
1/. Đầu thạch vấn lộ hoặc đả thảo kinh xà , cho người mang dê và rượu vào bái kiến Quốc lão để KIỀU Quốc lão báo cho Quốc Thái biết , là hang ổ của TÔN QUYỀN , CHU DU. Đưa Quốc Thái và KIỀU Quốc lão vào cuộc.
2/.Phô trương thanh thế cho 500 quân lính, kẻ áo thắm , người quần điều tấp nập mua sắm để mọi người trong thành đều biết việc LƯU BỊ làm rễ Đông Ngô.
3/. Từ 2 kế trên dẫn đến kế thứ 3 là giả thành thật , Dĩ giả cầu chân ,chuyện đám cưới giả thành đám cưới thật

 

KẾ THỨ 3 : DĨ TĨNH CHẾ ĐỘNG ( lấy tịnh chế động )

Dĩ tĩnh chế động là lấy cái tĩnh khống chế cái động.
Nguyên tắc của kế lấy tĩnh chế động là muốn duỗi thì phải co , muốn cao thì phải thấp , muốn người khác nói thì phải im lặng ,muốn bắt thì thả ra. Lạt có mềm thì buộc mới chặt.
Tĩnh là Âm , là con mái , là ở dưới ; động là Dương , là con trống , là ở trên. Âm có thể chế được Dương.
Kẻ cương cường hành động thường bộc lộ yếu điểm.
Bình tĩnh quan sát đợi cho đối phương hành động và lộ ra yếu điểm thì có thể chế ngự được.
Tĩnh cũng có nghĩa là bình tĩnh thì mới tỉnh táo, không bị mê hoặc tâm trí bởi sự náo động ,tranh chấp.


THÍ DỤ A : TÔI ĐÃ TRÚNG KẾ RỒI .

TÔ TẦN lúc đó đã thuyết phục được vua Triệu và 5 nước kia ( Tề, Sở , Yên , Hàn , Ngụy ) , đã kết thành khối hợp tung. Nhưng sợ Tần đánh các nước này , dùng võ lực làm hỏng mất tung ước. TÔ TẦN muốn đặt 1 người bên cạnh vua Tần để ghìm lái vua Tần; nhưng thấy không ai làm nổi việc ấy, bèn cho người mớm ý cho TRƯƠNG NGHI rằng :
_ Xưa, ông thân với TÔ TẦN lắm. Hiện TÔ TẦN đã có địa vị, nắm quyền binh trong tay, sao ông không đến nhờ ông ấy giúp đỡ, kiếm đường cho ông thực hiện ý nguyện?
TRƯƠNG NGHI bèn sang Triệu,dâng thư xin yết kiến TÔ TẦN. TÔ TẦN dặn người canh cửa không cho TRƯƠNG NGHI vào và cũng không để cho đi, bắt chờ đợi cả mấy ngày rồi mới tiếp.
Lúc tiếp lại bắt ngồi dưới thềm và cho ăn như cho lũ con đòi đầy tớ. Còn trách móc , bảo :
_ Tài năng như anh mà chịu nước ấy ! Làm gì tôi chả giúp anh nên giàu nên sang , song thật ra anh không đáng cho tôi giúp.
Rồi thoái thác và để mặc cho TRƯƠNG NGHI đi.
TRƯƠNG NGHI đến thăm TÔ TẦN , lòng vẫn chắc mẩm rằng mình là chỗ bạn cũ thì thế nào cũng được giúp đỡ. Ai ngờ giúp đỡ đâu chưa thấy , chỉ thấy bị làm nhục. NGHI nghĩ bụng : Chư hầu chả có nước nào mình thờ được , chỉ có mỗi nước Tần là có thể làm cho Triệu khốn đốn mà thôi. TRƯƠNG NGHI bèn đến nước Tần.
TÔ TẦN làm nhục TRƯƠNG NGHI rồi nói với viên xá nhân của mình :
_ TRƯƠNG NGHI là bậc hiền sĩ trong thiên hạ , ta có phần không bằng ông ấy. Ta đắc dụng trước chả qua là nhờ may đó thôi. Cái người có thể cầm quyền ở Tần được là TRƯƠNG NGHI , chỉ có mỗi TRƯƠNG NGHI thôi. Có điều là ông ấy nghèo quá , không có tiền lo lót để giới thiệu ( cho vào yết kiến Tần Vương ). Ta sợ ông ấy hám cái lợi nhỏ mà lỡ việc , cho nên mới tìm cách cho ông ấy đến gặp ta để ta làm cho ông ấy nhục mà phẫn chí. Ông hãy ngầm giúp ông ấy hộ ta.
Rồi TÔ TẦN tâu Triệu Vương , xin xuất vàng lụa , ngựa xe và cho người ngầm theo TRƯƠNG NGHI , trọ cùng với TRƯƠNG NGHI 1 quán. Dần dà , người này lân la làm thân với TRƯƠNG NGHI , giúp TRƯƠNG NGHI ngựa xe , tiền bạc , cần cái gì , giúp cái đó , mà không cho biết những cái đó từ đâu ra. Nhờ vậy, TRƯƠNG NGHI được yết kiến Tần Huệ Vương. Huệ Vương dùng TRƯƠNG NGHI làm khách khanh , cùng TRƯƠNG NGHI bàn định kế hoạch đánh các nước chư hầu. Bấy giờ viên xá nhân của TÔ TẦN cho theo giúp TRƯƠNG NGHI mới cáo biệt TRƯƠNG NGHI. TRƯƠNG NGHI nói :
_ Nhờ ông , tôi mới được hiển đạt. Tôi sắp sửa đền ơn ông, tại sao ông lại đi ?
Viên xá nhân nói :
_ Tôi không biết ông. Người biết ông là Ngài TÔ. Ngài TÔ sợ Tần đánh Triệu làm hỏng kế hoạch hợp tung , và cho rằng trừ ông ra , không ai nắm nổi quyền hành ở Tần , cho nên mới chọc tức ông, rồi sai tôi ngầm giúp ông tiền bạc , tất cả đều là kế hoạch của Ngài TÔ. Nay ông đã đắc dụng , tôi xin được về báo tin cho Ngài TÔ rõ.
TRƯƠNG NGHI nói :
_ Trời ơi ! Thì ra tôi trúng kế TÔ TẦN mà không biết. Rõ ràng tôi không bằng TÔ TẦN . Vả lại tôi vừa mới cầm quyền, làm sao tính chuyện đánh Triệu được ? Ông hãy cảm ơn Ngài TÔ hộ tôi. Ngài TÔ còn sống ngày nào thì tôi chả dám nói năng gì đâu. Vả chăng Ngài TÔ còn thì TRƯƠNFG NGHI này còn có tài chi !


LẠM BÀN :
1/. TÔ TẦN muốn Tần không đánh các nước phá thế hợp tung, phải có người kềm giữ bên cạnh vua Tần , tức là tĩnh chế động. Là lạt mềm buộc chặt.
TÔ TẦN tìm cách kích bác , hạ nhục TRƯƠNG NGHI , để TRƯƠNG NGHI tức giận vào đất Tần tìm cơ hội trả thù TÔ TẦN . Là muốn bắt thì phải thả cũng là kế khích tướng.
2/. Có người cho rằng TÔ TẦN và TRƯƠNG NGHI là 2 tay lái buôn chính trị giỏi của thời Xuân Thu Chiến Quốc.
Cùng học với QUỶ CỐC , nhưng xét ra tình đồng học của TÔ TẦN đối với TRƯƠNG NGHI tốt hơn BÀNG QUYÊN đối với TÔN TẪN.

THÍ DỤ B : ĐƯỢC VOI ĐÒI TIÊN.

Đầu đời nhà Hán , MẠO ĐỐN nước Hung Nô vừa xưng Vương. Vua nước Đông Hồ muốn thăm dò thực lực , bèn sai sứ thần đến đòi MẠO ĐỐN dâng ngựa thiên lý.
MẠO ĐỐN họp quần thần thương nghị. Có người tâu :
_ Cả nước chỉ có con ngựa thiên lý , không thể dâng cho người khác.
MẠO ĐỐN nói :
_ Ta với nước Đông Hồ là nước láng giềng , vì một con ngựa mà mất đi tình nghĩa là không nên.
Nói xong giao ngựa cho sứ giả đem về.
Mười ngày sau , Đông Hồ sai sứ giả đến đòi MẠO ĐỐN dâng Hoàng Hậu.
MẠO ĐỐN lại hỏi quần thần. Ai nấy đều tức giận nói :
_ Vua Đông Hồ thật là láo xược , muốn lấy cả Hoàng Hậu nước ta . Trước là chém đầu sứ giả , sau là cất quân đi trị tội.
MẠO ĐỐN từ tốn nói :
_ Vua Đông Hồ đã thích vợ ta , thì dâng cho ông ấy. Không vì 1 người đàn bà mà mất tình nghĩa lân bang.
Nói xong lại giao Hoàng Hậu đưa về Đông Hồ.
Chưa được mấy tháng , sứ thần lại sang đòi MẠO ĐỐN phần đất biên giới của 2 nước.
MẠO ĐỐN lại họp triều thần . Mọi người tranh cãi , kẻ thì bảo cắt đất , người thì bảo là không nên.
MẠO ĐỐN đứng dậy dõng dạc phán :
_ Đất đai là gốc của 1 nước , làm sao có thể cho được ?
Nói xong thét tả hữu lôi sứ thần ra chém đầu.
Sáng hôm sau , MẠO ĐỐN khoác chiến bào , gióng trống , tiến quân ào ạt vào Đông Hồ , quân Đông Hồ không kịp trở tay , đại bại.
MẠO ĐỐN xông thẳng vào điện giết chết Vua Đông Hồ , tiêu diệt nước này.

LẠM BÀN :
1/. Vua Đông Hồ được voi đòi tiên , được ngựa thiên lý , đòi Hoàng Hậu , được Hoàng Hậu nước người lại còn đòi đất đai. Láo xược , hiếp người , gây chiến quá đáng.
Cái dỡ là gây chiến nhưng không phòng bị người phàn công. Cuối cùng , ngựa không được cưỡi , người đẹp không được sống chung , thân bị giết , nước bị tiêu diệt.
2/. MẠO ĐỐN là người bình tĩnh , kiên nhẫn và nhịn nhục hiếm có.
MẠO ĐỐN thỏa mãn những đòi hỏi của đối phương , kể cả những đòi hỏi vô lý là bắt dâng cả vợ , làm cho đối phương chủ quan , không phòng bị .
Khi đối phương thỏa mãn được những đòi hỏi , sinh ra kiêu mạn chủ quan , bộc lộ yếu điểm thì MẠO ĐỐN nhanh chóng hành động , ào ạt xuất quân , thanh toán kẻ thù nhanh gọn. Như hổ đói thu mình rồi lao xuống núi vồ mồi.

 

KẾ THỨ TƯ : GIẢ SI BẤT ĐIÊN ( giả ngu si nhưng không điên )

Giả si bất điên là giả kẻ tầm thường , ngu dại , hồ đồ để che dấu mưu mô , mục đích của mình , qua mắt đối phương. Ẩn kín sâu xa , im lặng như sấm sét tự dấu mình trong mây những ngày Đông giá rét.
Người muốn thực hiện kế này phải hết sức bình tĩnh ,tự hạ thấp mình , nghe ngóng , quan sát lời nói , sự việc của đối phương và biết lợi dụng những điều kiện hoàn cảnh khách quan để che giấu ý tưởng.

THÍ DỤ A : TÔI LÀ NGƯỜI TRẦN MẮT THỊT.

HUYỀN ĐỨC sau khi nhận chiếu chỉ trừ TÀO THÁO , sợ THÁO nghi mình mưu đồ gì , bèn làm 1 vườn rau ở sau nhà ngày ngày vun xới tưới tắm , để làm cách che mắt cho THÁO khỏi ngờ.
QUAN, TRƯƠNG thấy vậy hỏi rằng :
_ Anh không lưu tâm đến việc lớn thiên hạ , học làm chi cái việc của kẻ tiểu nhân này?
HUYỀN ĐỨC nói :
_ Hai em đâu biết ý anh !
Hai người từ đó không dám nói gì nữa.
Một hôm , QUAN VŨ , TRƯƠNG PHI cùng đi chơi vắng , HUYỀN ĐỨC đang lom khom tưới rau , bỗng thấy HỨA CHỮ và TRƯƠNG LIÊU dẫn vài chục người vào vườn , nói rằng :
_ Thừa tướng sai chúng tôi đến mời Sứ quân đến ngay phủ.
HUYỀN ĐỨC giật mình , hỏi :
_ Việc gì khẩn cấp thế hai ông ?
HỨA CHỮ thưa :
_ Hai chúng tôi thấy sai thì vâng mệnh đi mời , chớ không được biết chuyện chi.
HUYỀN ĐỨC theo hai người vào phủ yết kiến TÀO THÁO. THÁO cười nói rằng :
_ HUYỀN ĐỨC độ rày làm việc lớn lao đấy nhỉ !
HUYỀN ĐỨC sợ tái mặt , THÁO cầm tay HUYỀN ĐỨC dắt vào vườn ở sau nhà , nói rằng :
_ HUYỀN ĐỨC học làm vườn , chắc không phải là việc dễ dàng ?
HUYỀN ĐỨC bấy giờ mới vững dạ , đáp rằng :
_ Không có việc gì , làm để tiêu khiền đó thôi.
THÁO nói :
_ Vừa rồi thấy trên cành mai có quả xanh , sức nhớ khi đánh TRƯƠNG TÚ , đi đường không có nước , tướng sĩ khát rát cả cuống họng. Bấy giờ ta nghĩ ra 1 kế , cầm roi trỏ hảo nói rằng : trước mắt có rừng mơ. Quân sĩ nghe nói đến mơ , ai cũng ứa nước dãi , đỡ được khát nước. Nay có mơ thật , nay hái xuống mà thưởng. Vả lại , rượu nấu vừa chín , cho nên mời Sứ quân đến tiểu đình uống rượu.
HUYỀN ĐỨC bấy giờ trấn tĩnh lại được , theo đến tiểu đình , đã thấy bày mâm bát , giửa bàn bày 1 dĩa mơ xanh , 1 bình rượu nóng.
Hai người đối diện , ăn uống vui vẻ. Lúc rượu ngà say , chợt thấy mây đen mù mịt ,cơn mưa to sắp kéo đến.
Quân hầu trỏ lên trời bẩm :
_ Có vòi Rồng lấy nước.
THÁO và HUYỀN ĐỨC cùng dựa bao lơn ngắm xem , THÁO hỏi :
_ Sứ quân có biết Rồng biến hóa thế nào không ?
HUYỀN ĐỨC nói :
_ Tôi chưa được tường .
THÁO nói :
_ Rồng lúc thì to,lúc thì nhỏ , lúc thì bay,lúc thì nấp. Lúc to thì nổi mây phun mù , lúc nhỏ thì thu hình ẩn bóng, khi bay ra thì liệng trong trời đất, khi ẩn thì lẩn núp ở dưới sóng.
Nay đang mùa Xuân , Rồng gặp thời biến hóa , cũng như người ta lúc đắc chí , tung hoành trong bốn bể. Rồng ví như anh hùng trong đời vậy. HUYỀN ĐỨC nay đã đi khắp 4 phương , bao nhiêu anh hùng đời nay hẳn đã biết cả , xin thử nói cho nghe.
HUYỀN ĐỨC thưa :
_ BỊ này người trần mắt thịt , biết đâu được anh hùng .
THÁO nói :
_ HUYỀN ĐỨC không nên nhún mình quá !
HUYỀN ĐỨC nói :
_ BỊ nay nhờ ơn Thừa tướng làm quan trong triều , anh hùng trong thiên hạ thực không được biết.
THÁO nói :
_ Đã đành không biết mặt , nhưng cũng có nghe tiếng chứ ?
HUYỀN ĐỨC nói :
_ VIÊN THUẬT ở Hoài Nam , binh lương nhiều , có thể cho là anh hùng được chăng ?
THÁO cười nói :
_ Xương khô trong mả , chỉ nay mai là ta bắt được !
HUYỀN ĐỨC lại nói :
_ Anh VIÊN THUẬT là VIÊN THIỆU ở Hà Bắc ,bốn làm tam công ,có nhiều đầy tớ cũ ;
hiện nay như con hổ dữ hùng cứ Quý Châu ; bộ hạ nhiều tay tài giỏi , có thể là anh hùng
được chăng ?
THÁO lại cười nói :
_ VIÊN THIỆU ngoài mặt mạnh bạo , trong bụng nhút nhát , thích mưu mẹo mà không quyết đoán , làm việc lớn mà lo đến bản thân , thấy lợi nhỏ thì lại quên mình , không thể gọi là anh hùng được !
HUYỀN ĐỨC nói ;
_ Có một người nổi tiếng trong đám kẻ tuấn kiệt , uy danh khắp cả chín châu là LƯU CẢNH THĂNG , có thể cho là anh hùng được chăng ?
THÁO lại cười nói :
_ LƯU BIỂU có hư danh nhưng không có thực tài , không phải là anh hùng.
HUYỀN ĐỨC lại nói :
_ Có một người sức lực đương khoẻ , đứng đầu xứ Giang Đông là TÔN BÁ PHÙ , hẳn là anh hùng.
THÁO nói :
_SÁCH nhờ danh tiếng của bố , không phải là anh hùng.
HUYỀN ĐỨC lại hỏi :
_ LƯU QUÝ NGỌC ở Ích Châu có phải là anh hùng không ?
THÁO nói :
_ LƯU CHƯƠNG tuy là tôn thất , nhưng chỉ là con chó giữ nhà , sao gọi là anh hùng được ?
HUYỀN ĐỨC lại nói :
_ Như bọn TRƯƠNG TÚ , TRƯƠNG LỖ và HÀN TOẠI thì thế nào ?
THÁO vỗ tay cười to :
_ Lũ tiểu nhân nhung nhúc ấy thì nói làm gì !
HUYỀN ĐỨC nói :
_ Ngoài những người ấy ra , BỊ thực không còn biết ai nữa.
THÁO nói :
_ Anh hùng là người trong bụng có chí lớn , có mưu cao ,có tài bao trùm được cả vũ trụ
có chí nuốt cả trời đất kia.
HUYỀN ĐỨC mới hỏi :
_ Ai có thể xúng đáng được như thế ?
TÀO THÁO lấy tay trỏ vào HUYỀN ĐỨC , rồi lại trỏ vào mình nói rằng :
_ Anh hùng thiên hạ bây giờ chỉ có Sứ quân và THÁO mà thôi.
HUYỀN ĐỨC nghe nói ,giật nẩy mình ! Thìa , đôi đũa đương cầm ở tay , rơi xuống đất
Giửa lúc bấy giờ , cơn mưa u ám , có một tiếng sét thực dữ. LƯU BỊ từ từ cúi xuống nhặt đũa và thìa , nói tảng rằng :
_ Gớm ghê ! tiếng sét dữ quá !
THÁO cười hỏi rằng :
_ Trượng phu cũng sợ sấm à ?
HUYỀN ĐỨC nói :
_ Đức Thánh ngày xưa lúc gặp sấm dữ gió to cũng đổi sắc mặt , huống chi là tôi đây sao lại không sợ ?
HUYỀN ĐỨC đã che đậy được hết cả việc giật mình đánh rơi cả thìa đũa khi nghe THÁO
gọi mình là anh hùng.
THÁO thấy thế không ngờ gì HUYỀN ĐỨC nữa.

LẠM BÀN :
1/. THÁO muốn khơi gợi bàn về thời thế luận anh hùng để cho LƯU BỊ bộc lộ quan điểm và chí hướng của mình. LƯU BỊ thì cố gắng che đậy , né tránh.
Khi TÀO THÁO chỉ thẳng vào LƯU BỊ.cho LƯU BỊ là anh hùng thời nay thì LƯU BỊ rất lúng túng , may nhờ tiếng sét mà trấn tĩnh lại được. LƯU BỊ còn giả làm vườn tưới rau làm cho THÁO lầm BỊ là kẻ tầm thường không có mưu đồ sâu xa.
2/. Hai mưu kế đối chọi nhau , TÀO THÁO ứng dụng đầu thạch vấn lộ. LƯU BỊ dụng kế giả si bất điên nhưng xem ra LƯU BỊ đóng kịch khéo hơn vì ở trong hoàn cảnh thập tử nhất sinh
Đóng kịch không tỉnh táo , không nhập vai , không khéo thì bị trừ khử ngay.
3/. Nếu theo hình tượng thì LƯU BỊ như con Rồng lẩn khuất dưới vực sâu , ẩn náu chờ thời
4/. LÃO TỬ dạy người ta : Biết như con trống mà như con mái. Thông thường , khoe thông minh , khoe tài thì dễ ; giấu tài , giấu sự thông minh thì rất khó.

THÍ DỤ B : CON CHIM BA NĂM KHÔNG BAY , KHÔNG HÓT

Thời Tề Uy Vương , nhà Vua thích câu đố , tiếng lóng , ham mê khoái lạc , rượu uống thâu đêm ,chẳng còn để ý chính sự , nhất thiết phó thác cho các quan khanh, đại phu. Trong thì bách quan hoang loạn , ngoài thì chư hầu cùng xâm lấn , quốc gia nguy vong trong vòng sớm tối. Các quan thân cận chẳng ai dám can. THUẦN VU KHÔN dùng lời bóng gió tâu rằng :
_ Trong nước có một con chim lớn , đậu ở sân nhà Đại Vương ba năm cũng chẳng bay , cũng chẳng hót. Đại Vương có biết con chim đó là chim gì không ?
Vua nói :
_ Con chim đó không bay thì thôi , đã bay thì bay vút tận trời , không hót thì thôi , đã hót thì mọi người phải kinh ngạc.
Và cho triệu 72 viên huyện trưởng về triều , thưởng 1 viên ( TỨC MẶC đại phu ) , giết 1 viên ( A đại phu ) , ào ạt xuất quân. Chư hầu hoảng sợ , đều trả lại hết đất đai đã lấn của Tề. Uy danh Tề uy Vương lừng lẫy trong 36 năm.

LẠM BÀN :
1/. Có sách dẫn là Sở Trang Vương , khi lên ngôi còn quá trẻ , ông để cho triều thần nắm quyền.
2/. Trong 3 năm giả bộ ăn chơi , hư hỏng nhưng thực chất để quan sát tình hình , đợi thời cơ chín muồi mới hành động , lấy lại những gì đã mất

 


CHƯƠNG 4:NỘ KIỆN CHI SÁCH
(KẾ SÁCH VẸN TOÀN)



NỘI là tự trình bày ý kiến, kế hoạch, mưu kế của mình. KIỆN là bao quát kế hoạch, mưu kế của mình cho thuộc hạ, cho bạn đồng liêu hoặc với 1 người náo đó.

Nói chung NỘI KIỆN là 1 kế hoạch, 1 kế mưu được suy nghĩ trước, chuẩn bị chu đáo trong 1 hoàn cảnh nhất định. KIỆN cũng có nghĩa là kiên định với sách lược của mình (Ví dụ như: KHỔNG MINH chưa ra khỏi lều tranh đã nêu ra quyết sách chia ba thiên hạ, theo thế chân vạc, cả đời thực hiện kế sách này)

Muốn thực hiện sách nội kiện phải biết mối quan hệ và phương thức kết hợp giửa người với người, giửa nhà Vua với bề tôi.

1. Xét mối quan hệ giửa người với người hoặc giửa Vua với bề tôi rất phức tạp, không chỉ xét phiếm diện bên ngoài để xét đoán. Đôi khi tuy bề ngoài có vẻ xa cách nhưng thật sự là thân mật, bên ngoài có vẻ thân mật nhưng thật sự lại xa xôi nhạt nhẽo. Bề tôi ở cạnh Vua nhưng mưu kế sách lược không hợp thì không được dùng. Dù xa xôi vạn dặm nhưng mưu kế tương hợp với nhau vẫn được tin dùng. Xa mà thân với Vua là do Âm đức (đạo đức, tài năng), gần mà không được tin dùng là do chí hướng khác nhau, đạo lý không hợp nhau. Thân hoặc sơ, gần hoặc xa, mưu kế được tin dùng hoặc không được tin dùng phần nhiều là do ở phương thức kết hợp.

2. Trong mối quan hệ Vua tôi có nhiều phương thức kết hợp: Do đạo đức mà kết hợp; do bè đảng mà kết hợp; do địa vị, tiền tài, vật chất, nữ sắc mà kết hợp. Do đạo đức mà kết hợp, thì tuy là thần tử nhưng là thầy của Vua. Do bè đảng kết hợp, tuy phận thần tử nhưng lại là bạn bè của Vua. Do địa vị, tiền tài, vật chất, nữ sắc... kết hợp là sự kết hợp của Vua bất minh, bạo ngược với bọn bề tôi xu nịnh.

3. Khi đã hiểu rõ được mối quan hệ và phương thức kết hợp của đối phương thì dễ dàng trong việc thuyết phục đối phương. Như muốn vào thì vào, muốn ra thì ra, muốn thân thì thân, muốn sơ thì sơ, muốn thành tựu thì thành tựu... Tương tự như loài nhện, loại này rất yêu con, nhưng muốn đi thì đi muốn đến thì đến. Khi đi không hẹn giờ ngày, khi về không báo trước, 1 mình đi 1 mình đến, độc vãng độc lai, tùy theo lòng mình mong muốn, tùy tâm sở dục.

4. Người du thuyết không được trọng dụng cũng có nhiều nguyên nhân: Do chí hướng bất đồng và đạo lý khác nhau giửa người du thuyết với người được du thuyết. Do chính sách, biện pháp của người du thuyết không thích hợp với tình hình của nước đó. Do không tìm hiểu đối phương nên không thuyết phục khống chế được đối phương. Vì thế người ta nói: Không đồng loại với nhau chỉ thấy cái nghịch lại với nhau. Không chiếm được cảm tình của đối phương thì không thu lượm được gì cả.

5. An định nhân dân tinh thành hợp tác: Đạo lý của việc trị dân là giúp dân lập nghiệp, sống trong an bình. Muốn vậy Vua tôi phải có hợp tác tinh thành. Có tinh thành hợp tác thì mới an định được dân sinh. Bản thân mưu sĩ phải củng cố đạo đức, lễ nghĩa, nghiên cứu và khảo chứng mưu kế, tìm hiểu sự thành tựu và không thành tựu, sự ích lợi và sự tổn hại của đất nước, của nhân dân.

6. Cách trị loạn: Một nước nếu Vua hôn ám, không lo quốc gia chính sự, thần dân phân tán mà không hay biết. Đối nội theo ý chủ quan của mình, đối ngoại không chú ý đến thời cuộc. Không chiêu nạp trọng dụng nhân tài, không lắng nghe ý kiến của mưu sĩ. Tất yếu là loạn lạc sẽ xảy ra. Nếu trong lúc đất nước nguy nan, mưu sĩ được trọng dụng trước hết là phải đối phó, bài trừ sự hư ngụy, giả dối, đồng thời chăm lo đến việc giáo hóa nhân dân và nuôi dưỡng vạn vật.

7. Sách nợi kiện có 3 kế:
_ Tấn tài, Sở dụng (người tài của Tấn dùng ở Sở)
_ Tiến ngôn mật quyết (bí quyết hiến kế)
_ Tùy tâm sở dục (tùy tâm lý và dục vọng)

 

 

KẾ THỨ NHẤT: TẤN TÀI SỞ DỤNG
(người tài nước Tấn dùng ở Sở)



Tấn tài Sở dụng là chỉ người tài nước này được nước khác nể trọng, hoặc đem tài của mình ra áp dụng ở nước khác. Xa mà được nể trọng , thân mật là do Âm đức (tài năng, đức độ), gần mà không thân là do chí hướng không hợp nhau. Muốn thực hiện kế này phải hiểu rõ các nhân tài, mưu sĩ của nước đối phương. Đối đáp phải linh hoạt tài tình, ngẩng cao đầu, nâng cao uy tín của mình.
Thí dụ: Đi sứ nước chó chui lỗ chó

Chư hầu thấy nước Sở cường thịnh đều có ý sợ hãi, sai sứ đến triều cống. Quan đại phu nước Tề là Án Anh (tên tự là Bình Trọng) phụng mệnh Tề Cảnh Công sang sứ nước Sở.

Sở Linh Vương bảo triều thần rằng:
_ Án Anh mình không đầy 5 thước mà chư hầu đều khen là người giỏi. Nay các nước chỉ có Sở ta là cường thịnh hơn cả, ta muốn là cho Án Anh sĩ nhục để nâng cao uy nước Sở, các ngươi nghĩ xem có kế gì?

Quan thái tễ là Viên Khải Cương mật tâu rằng:
_ Án Anh là người có tài ứng đối, tất phải dùng nhiều cách mới sĩ nhục được hắn.

Viên Khải Cương liền đem mưu kế nói với Sở Linh Vương. Sở Linh Vương nghe lời. Đêm hôm ấy, Viên Khải Cương đem quân ra khoét 1 cái lỗ nhỏ ở bên cửa Đông vừa vặn độ 5 thước, rồi truyền cho quân canh cửa đợi khi nào sứ nước Tề đến thì đóng chặt cửa lại rồi bảo chui qua cái lỗ nhỏ ấy mà vào.

Được 1 lúc, Án Anh mặc áo cừu rách, đi cái xe xấu và con ngựa gầy đến. Đến cửa Đông, thấy cổng thành đóng liền dừng xe lại, sai người gọi cửa, quân canh cửa trỏ vào cái lỗ nhỏ ở bên cạnh mà bảo Án Anh rằng:
_ Ngài đi qua cái chỗ ấy, cũng rộng rãi chán, cần gì phải mở cửa !

Án Anh nói:
_ Đó là chỗ chó chui, chứ không phải chỗ nguồi đi. Có sang sứ nước chó thì mới vào cửa chó, chứ sang sứ nước người thì tất phải đi cửa người.

Quân canh cửa đem lời nói ấy phi báo với Sở Linh Vương. Sở Linh Vưong nói:
_ Ta tính bỡn hắn , ai ngờ lại bị hắn bỡn lại !

Nói xong , truyền mở cửa thành cho Án Anh vào. Án Anh vào trong thành , thấy có 1 toán xa kỵ, người nào cũng to lớn lực lưỡng và rậm râu, tay cầm 1 ngọn giáo thật dài, trông như vị thiên thần, đến đón Án Anh, có ý muốn tỏ rõ Án Anh là người thấp lùn bé nhỏ. Án Anh nói:
_ Ta sang sứ hôm nay là vì việc giao hiếu , chứ không phải là muốn gây chiến tranh, dùng làm chi những kẻ vũ sĩ ấy!

Án Anh nói xong bảo vũ sĩ đứng ra 1 bên, rồi giục xe thẳng tới cửa triều. Ngoài cửa triều có hơn 10 viên quan, đều mũ cao áo dài , đứng sắp hàng 2 dãy. Án Anh xuống xe, chắp tay vái chào.

Trong hàng các quan, có 1 viên trẻ tuổi hỏi Án Anh rằng:
_ Ngài có phải là Án Bình Trọng, người ở đất Di Duy đó không ?
Án Anh nhìn xem ai thì tức là Đấu Vi Quý , tên gọi Đấu Thành Nhiên, hiện đang làm quan giáo doãn. Án Anh đáp rằng:
_ Phải , chính tôi đó ! Chẳng hay ngài định dạy điều gì ?

Đấu Thành Nhiên nói:
_ Nước Tề , kể từ đời Thái Công thuở xưa , vốn là 1 nước cường thịnh, sao từ khi Hoàn Công mất đi rồi, tronmg nước nhiễu loạn , tranh cướp lẫn nhau, hết bị Tấn đánh, lại bị Tống đánh. Vua Tề ngày nay cũng chẳng kém gì Hoàn Cô;ng, mà cái hiền đức của ngài phỏng có thua gì Quản Trọng, sao ngài không biết giúp Vua Tề để chấn hưng cơ nghiệp cũ, mà chịu cúi đầu thờ nước lớn như nô bộc, thật tôi không hiểu ra làm sao!

Án Anh đáp rằng:
_ Có biết thời thế mới gọi là tuấn kiệt, có thông cơ biến mới gọi là anh hào. Từ khi nhà Chu suy, Tề và Tấn làm chủ ở Nam Man , dẫu bởi có nhân tài , nhưng chẳng qua cũng là do khí vận. Kìa như Tấn Tương Công và Tần Mục Công cường thịnh biết bao mà sau cũng phải hèn yếu ; nước Sở từ khi Vua Trang Vương mất đi , cũng thường bị quân Tấn và quân Ngô đến đánh , cứ gì 1 nước Tề ! Chúa Công tôi hiểu lẽ ấy , cho nên vẫn luyện tập quân mã để đợi thời ; nay sai tôi sang đây là theo lễ giao hiếu với lân quốc , sao gọi là nô bộc được? Ngài có phải dòng dõi Tử Văn đó không? Tử Văn khi xưa là 1 bậc danh thần nước Sở , biết thời thế , thông cơ biến , mà sao lời nói của ngài nghe trái với Tử Văn nhiều lắm!

Đấu Thành Nhiên thẹn đỏ mặt lên, cúi đầu lui ra.

Được 1 lúc , trong hàng bên tả lại có người hỏi Án Anh rằng:
_ Án Bình Trọng tự phụ là người biết thời thế, thông cơ biến, nhưng trong khi Thôi Trữ và Khánh Phong nổi loạn, thì triều thần nước Tề từ Giải Cử trở xuống, bao nhiêu người tử tiết, Trần Văn Tử cũng bỏ cả cơ nghiệp mà đi. Ngài là thế gia nước Tề , đã không dám đánh giặc , cũng không biết tử tiết , còn bo bo giữ lấy danh vị làm chi !

Án Anh nhìn xem ai thì tức là quan thượng đại phu nước Sở , tên gọi Dương Mang , tên tự là Tử Hà. Án Anh đáp rằng:
_ Người có tiết lớn thì không cần những điều nhỏ mọn , người biết lo xa thì không nghĩ đến những sự tầm thường. Ông Vua vì nước mà chết thì bề tôi nên chết theo , nay Vua Trang Công tôi không phải vì nước mà chết , những người chết theo toàn là vì tình riêng, tôi dẫu hèn mạt có đâu dám liều chết để mua lấy cái hư danh ấy! Vả bề tôi gặp lúc trong nước có nạn không thể làm gì được thì mới nên bỏ đi , tôi không đi là để lập Vua mới mà giữ lấy nước , chứ có phải là vì tham danh vị đâu ? Huống chi là việc biến loạn , nước nào chẳng có , ngài chắc các quan triều thần nước Sở đều là những người 1 lòng tử tiết cả hay sao? Sao ngài chỉ biết trách người mà không biết trách mình?

Dương Mang nín lặng không đáp lại được nữa. Bỗng thấy trong hàng bên hữu lại có 1 người ra hỏi Án Anh rằng:
_ Ngài muốn nói là ngài muốn lập Vua mới để giữ lấy nước , câu nói ấy có ý khoe khoang quá ! Trong khi họ Thôi và họ Khanh giết lẫn nhau , họ Trần và họ Bào tranh quyền nhau , chẳng thấy ngài có mưu kế gì lạ cả , nếu quả ngài có lòng báo quốc thì sao lại như thế!

Án Anh cười mà nói rằng:
_ Ngài biết điều ấy, nhưng chưa biết điều khác ! Lúc bấy giờ, tôi ở liền bên cạnh Chúa Công, tôi bày mưu kế để giữ yên nước nhà, những kẻ bàng quang tài nào biết rõ được?

Trong hàng bên tả lại có 1 người ra bảo Án Anh rằng:
_ Đại trượng phu gặp thời , đã có đại tài lược , tất có đại qui mô ! Tôi xem ra thì ngài khó mà tránh khỏi được cái tiếng bỉ lận !

Án Anh nhìn xem ai thì là quan thái tể nước Sở tên gọi Viên Khải Cương. Án Anh nói:
_ Tại sao ngài lại biết là tôi bỉ lận ?

Viên Khải Cương nói :
_ Thân danh ngài làm tướng quốc thì mũ áo và xe ngựa , tưởng cũng nên trang sức để tỏ cái ân huệ của Vua , cớ sao lại mặc áo cừu rách , cưỡi con ngựa gầy mà đi sứ nước ngoài như vậy , chẳng lẽ lương ăn không đủ hay sao? Tôi nghe nói cái áo cừu của ngài may từ thuở bé , đã 30 năm nay không thay; mà mỗi khi tế lễ, ngài dùng con lợn nhỏ quá, đến nỗi vai lợn không chật mâm, như thế không phải bỉ lận là gì?

Án Anh vỗ tay cười rầm lên mà nói rằng:
_ Sao kiến thức của ngài thiển cận như vậy? Tôi từ khi làm tướng quốc đến giờ , suốt trong họ hàng nhà tôi đều được mặc áo đẹp, ăn miếng ngon , không ai phải đói rét ; những người hàn sĩ nhờ tôi mà được ấm no , cả thẩy đến hơn 70 nhà , thế thì muốn tỏ cái ân huệ của Vua , còn gì bằng điều ấy !

Án Anh nói chưa dứt lời thì trong hàng bên hữu lại thấy có 1 người trỏ tay vào mặt Án Anh mà vừa cười vừa nói:
_ Tôi nghe nói Vua Thành Thang mình cao 9 thước là bậc hiền vương , Tử Tang sức địch muôn người là bậc danh tướng. Nay ngài mình thấp không đầy 5 thước , sức yếu không trói nổi 1 con gà , chỉ nghề bẻo lẻo mồm miệng , tự phụ là tài giỏi , tôi tưởng nên lấy làm xấu hổ lắm mới phải !

Án Anh nhìn xem ai thì tức là cháu công tử Chân , tên gọi Nang Ngõa , tên tự là Tử Thường , hiện đang làm chức xa hữu. Án Anh tủm tỉm cười mà đáp rằng:
_ Tôi nghe nói cái quả cân dẫu nhỏ , bao giờ cũng đè được nghìn cân ; cái chèo dẫu dài , bao giờ cũng ngâm ở dưới nước. Trương Địch người cao mà bị giết ở lỗ , Nam Cung Trường vạn sức khoẻ mà bị giết ở Tống ; túc hạ mình dài sức khoẻ , có lẽ cũng giống 2 người ấy. Tôi biết thân không có tài cán gì , nhưng hỏi gì thì phải nói , sao ngài lại chê là bẻo lẻo mồm miệng?

Nang Ngõa không biết nói thế nào nữa. Bỗng nghe báo có quan lệnh doãn và Viễn Bãi đến. Các quan đều sắp hàng đứng đợi. Ngũ Cử mời Án Anh vào triều , rồi bảo các quan đại phu rằng:
_ Án Bình Trọng là hiền sĩ nước Tề, sao các ngài lại nói quá như vậy ?

Được 1 lúc Sở Linh Vương ra ngự triều. Ngũ Cử đưa Án Anh vào yết kiến. Sở Linh Vương trông thấy Án Anh liền hỏi rằng:
_ Nước Tề quả thật không có nguồi hay sao?

Án Anh nói:
_ Người nước Tề tôi , hà hơi thì thành ra mây , vẩy mồ hôi thì thành ra mưa , đi thì phải chen vai , đứng thì phải chen chân , sao gọi là thiếu người?

Sở Linh Vương nói:
_ Thế thì sao lại sai tiểu nhân sang sứ nước ta ?

Án Anh nói:
_ Nước tôi vẫn có lệ: Người hiền sang sứ nước hiền , người ngu sang sứ nước ngu , đại nhân sang sứ đại quốc , tiểu nhân sang sứ tiểu quốc. Tôi là tiểu nhân , bất tài bất lực , vậy mới phụng mệnh sang sứ nước Sở.

Sở Linh Vương nghe nói có ý hổ thẹn , nhưng trong lòng lấy làm lạ.
Gặp bấy giờ có người ở ngoại thành đem dâng hợp hoan quất (quýt). Sở Linh Vương cầm đưa một quả, Án Anh cầm ăn cả vỏ. Sở Linmh Vương vỗ tay cười rầm lên mà bảo rằng:
_ Người nước Tề dễ thường không ăn quýt bao giờ ! Cớ sao lại không bóc vỏ?

Án Anh nói :
_ Cú theo trong lễ thì Vua đưa cho quả gì , bề tôi cũng không được bóc vỏ mà quẳng đi. Nay đại vương không truyền cho bóc vỏ , nên tôi phải ăn cả.

Sở Linh Vương bất giác kính phục , mời ngồi uống rượu. Được 1 lúc , có 3-4 vũ sĩ giải 1 tên tù đi qua dưới thềm. Sở Linh Vương nói:
_ Tên tù ấy người ở đâu?

Vũ sĩ tâu:
_ Người nước Tề.

Sở Linh Vương hỏi:
_ Phạm tội gì?

Vũ sĩ tâu:
_ Tội ăn trộm.

Sở Linh Vương ngoảnh lại bảo Án Anh rằng:
_ Người nước Tề dễ thường quen tính ăn trộm hay sao?

Án Anh biết là Sở Linh Vương cố ý bày ra chuyện ấy để chế nhạo mìn, mới đáp lại rằng:
_ Tôi nghe nói giống quýt ở xứ Giang Nam vốn ngọt , đem sang trồng ở xứ Giang Bắc thì hóa ra chua , là tại thổ nghi không giống nhau. Nay người nước Tề , khi ở nước Tề thì không ăn trộm , khi sang Sở thì hóa ra ăn trộm , thế là tại thổ nghi nước Sở , chứ có tại gì người nước Tề !

Sở Linh Vương nín lặng hồi lâu rồi nói rằng:
_ Ta định chế nhạo nhà ngươi , chẳng ngờ lại bị nhà ngươi chế nhạo !
Bèn tiếp đãi Án Anh rất trọng thể cho đến khi về nước Tề


LẠM BÀN:
1. Sở Vương ỷ mình là nước lớn , cường thịnh , cố ý bày mưu sĩ nhục Án Anh , sứ nước Tề. Án Anh biết rõ gốc gác từng mưu sĩ của nước Sở , kiến thức lại rộng rãi , ứng đối như nước chảy phá được các mưu kế và sự chế nhạo của Vua Sở , làm cho Vua Sở kính nể.

2. Tư Mã Thiên hết lời khen ngợi Án Tử: Giả sử Án Tử mà còn , tôi tuy cầm roi ngựa cho ông , xin cũng vui lòng.

 

KẾ THỨ HAI:TIẾN NGÔN MẬT QUYẾT (bí quyết của việc hiến kế)

Tiến ngôn mật quyết là bí quyết của việc du thuyết, thuyết phục hoặc can gián nhà Vua.
Nhiều người du thuyết , can gián thất bại thậm chí thệt thân, do 1 phần không nắm vững bí quyết.

Quan hệ Vua tôi là quan hệ trên và dưới , có thân và có sơ. Gần mà không thân thì mưu kế chưa chắc được dùng, lời can gián không được nghe, có khi đưa ra mưu kế hoặc lời can gián còn hại cho bản thân.

Theo qui luật vật cùng loại thì hô ứng, không đồng loại thì không hô ứng với nhau. Tương tự , con người thường chủ quan, cảm tính và thiên kiến. Không đồng tình với ý mình thì cho là trái. không hợp với tâm lý tình cảm của mình thì cho là nghịch. Người can gián, du thuyết hiểu đạo lý này thì thành công không nắm vững thì thất bại.

Thí dụ A: Luộc cho đủ số 28

Vua Tần (Tần Thủy Hoàng) ghét và giam thái hậu, ai can ngăn thì giết.

Có người ở Thương Châu tên là Mao Tiêu, nhân đến chơi Hàm Dương, ở nhà trọ, nghe người ta nói đến việc ấy. Mao Tiêu căm tức nói rằng:
_ Con mà giam mẹ thì còn Trời Đất nào nữa!
Rồi bảo chủ trọ cho nước nóng để tắm gội, sớm hôm sau sẽ vào can Vua Tần.

Người trong nhà trọ can rằng:
_ Hai mươi bảy người kia là bề tôi thân tín của nhà Vua thế mà can không được còn bị giết liền tay, huống gì nhà ngươi!

Mao Tiêu nói:
_ Chỉ có 27 người nhà Vua không nghe, nếu có người can nữa thì Vua Tần nghe cũng không biết chừng!

Những người cùng ở nhà trọ cười và cho là ngu. Sáng hôm sau, vào trống canh năm Mao Tiêu gọi chủ trọ lấy cơm ăn thật no để đi.
Chủ trọ nắm áo giữ lại không được. Ai nấy cho rằng Mao Tiêu sẽ chết nên lấy hành lý của Mao Tiêu chia nhau.

Mao Tiêu đi đến cửa khuyết, phục vào đống thây kêu to:
_ Tôi là khách nước Tề tên là Mao Tiêu xin dâng lời can Đại Vương.

Vua Tần sai nội thị ra hỏi là can việc gì, có dính dáng đến việc của Thái hậu không?

Mao Tiêu nói:
_ Tôi chính vì việc ấy mà đến!

Nội thị vào tâu. Vua Tần nói:
_ Ngươi nên chỉ đống thây ở dưới cửa cho người ấy biết!

Nội thị ra bảo với Mao Tiêu:
_ Ông có thấy thây chồng chất không? Sao không sợ chết ư?

Mao Tiêu nói:
_ Tôi nghe trên trời có 28 sao giáng xuống đất thì làm chính nhân. Nay số chết đã 27 người rồi, còn thiếu 1. Tôi đến đây muốn chết cho đủ số. Xưa nay, ai là không chết, tôi đây lại sợ chết ư?

Nội thị vào tâu. Vua Tần cả giận nói:
_ Tên cuồng này dám trái lệnh cấm của ta!

Rồi sai đặt chảo nước sôi để sẵn, nói rằng:
_ Ta sẽ luộc sống tên này, để hắn không được chết vào đống thây cho đủ số 28.

Nói xong Vua Tần chống gươm ngồi, lông mày trợn ngược, giận sôi bọt mép, chỉ đợi Mao Tiêu vào là luộc.

Mao Tiêu cố tình đi rón rén. Nội thị giục. Mao Tiêu nói:
_ Tôi đến trước mặt Vua thì phải chết ngay , hoãn cho tôi chốc lát thì có hại gì ?

Nội thị thương tình dắt vào trong. Mao Tiêu đi đến dưới thềm dập đầu lạy 2 lạy, nói:
_ Tôi nghe nói: Kẻ sống không kiêng nói đến cái chết, kẻ có nước không kiêng nói chuyện mất nước. Kiêng nói cái chết cũng không làm cho mình sống lại được, kiêng nói mất nước cũng không làm cho nước còn. Cái kế sách mất còn, sống chết đức minh chủ cần phải biết. Chẳng hay Đại Vương có muốn nghe không?

Vua tần hơi dịu:
_ Người có kế gì cứ nói ta nghe!

Mao Tiêu nói:
_ Kẻ trung thần không tiến lời nói a dua thì đấng minh chủ không làm việc cường bạo. Vua làm việc cuồng bạo mà bề tôi không nói là bề tôi bất trung. Bề tôi có lời ngay thẳng mà Vua không nghe là phụ lòng bề tôi. Đại Vương có việc làm trái đạo trời mà không tự biết, kẻ bề tôi hèn mọn này có lời ngay thẳng trái tai mà Vua lại không muốn nghe. Cho nên tôi e rằng nước Tần từ nay nguy mất!

Vua tần dịu hẳn, hỏi:
_ Nhà ngươi định nói việc gì, ta bằng lòng nghe.

Mao Tiêu hỏi:
_ Có phải ngày nay Đại Vương đang quan tâm đến việc khắp thiên hạ đó không ?

Vua Tần nói:
_ Phải!

Mao Tiêu nói:
_ Thiên hạ sở dĩ tôn Tần không phải chỉ vì sợ oai lực Đại Vương, mà vì cho rằng Đại Vương là hùng chủ cả thiên hạ và cả trung thần, hiền sĩ đều hợp ở triều đình vậy. Nay Đại Vương phanh thây giả phụ là bất nhân, đập chết 2 em là bất nghĩa, đày mẹ ở cung Hoắc Dương là bất hiếu. Giết hại người can ngăn bỏ thây dưới cửa khuyết, thực không khác gì Vua Kiệt, Vua Trụ! Quan tâm đến việc toàn thiên hạ mà làm những việc như thế thì làm sao thiên hạ phục? Xưa kia Vua Thuấn hết lòng thờ bà mẹ cay nghiệt hết đạo mà được làm Vua. Vua kiệt giết Bàng Long, Vua Trụ giết Tỷ Can mà thiên hạ đều làm phản cả. Tôi tự biết là tất chết nhưng e rằng sau khi tôi chết sẽ không còn ai dám nói nữa, lời nguyền rủa ngày càng thêm, những người trung mưu không dám bày tỏ, lúc ấy trong ngoài lìa tan, chư hầu làm phản. Tiếc thay Đế nghiệp Tần gần thành mà tự Đại Vương làm cho hỏng đi.
Tôi nói hết rồi xin chịu luộc.

Mao Tiêu nói xong lập tức đứng dậy, cởi áo chực nhảy vào chảo nước sôi. Vua Tần vội chạy xuống, tay trái nắm lấy Mao Tiêu, tay phải truyền tả hữu cất chảo nước.

Mao Tiêu nói:
_ Đại Vương đã yết bảng cấm người can, không luộc tôi thì ai sợ?

Vua Tần lại sai cất bảng, sai tả hữu đưa áo cho Mao Tiêu mặc, mời ngồi và nói:
_ Những người can trước chỉ kể tội quả nhân, chưa hề nói rõ cái lẽ còn mất. Nay Trời sai tiên sinh đến, mở sự ngu tối cho quả nhân. Quả nhân xin theo đúng như lời.


Thí dụ B: Một chỗ không thể dung 2 con chimNước hàn có công tử Phi giỏi về môn học hình danh (pháp luật), thấy nước hàn suy thoái, mấy lần dâng thư lên Vua Hàn, Vua đều không dùng.

Đến lúc quân Tần đánh Hàn, Vua Hàn sợ. Nhân đó công tử Phi muốn sang Tần mong được Vua Tần dùng, xin Vua Hàn cho mình đi sứ để cầu hòa.

Phi đến Hàm Dương yết kiến Vua Tần, nói Hàn xin nộp đất làm phiên thuộc. Vua Tần vui mừng. Phi nhân đó nói rằng:
_ Tôi có kế phá được tung ước các nước, hoàn thành được mưu kiêm tính của Tần. Đại Vương dùng kế của tôi, nếu không thu phục được các nước thì xin chém tôi, đem rao khắp nơi để làm gương cho những kẻ bề tôi bất trung. Rồi đem dâng những bộ sách của mình như Thuyết nan, Cô phẫn, Ngũ đô, Thuyết lâm, tất cả hơn 10 vạn chữ. Vua Tần xem xong lấy làm hay, muốn dùng Phi làm khách khanh cùng bàn việc nước.

Lý Tư ghen tài, gièm rằng:
_ Các công tử chư hầu đều thân với người thân của mình, có đâu lại để cho người khác lợi dụng. Tần đánh Hàn, Vua Hàn sợ sai Phi vào Tần, biết đâu Hàn chẳng dùng kế phản gián, vậy không nên dùng.

Vua Tần nói:
_ Vậy thì đuổi đi hay sao?

Lý Tư nói:
_ Xưa công tử Vô Kỵ nước Ngụy, công tử Bình Nguyên nước Triệu đã từng ở Tần. Tần không dùng thả cho về nước, sau lại hại Tần. Phi có tài chi bằng giết đi để cắt vây cánh nước Hàn.

Vua Tần bèn giam Hàn Phi ở Hàm Dương. Khi sắp bị đem đi giết, Hàn Phi hỏi:
_ Ta có tội gì?

Tên coi ngục nói:
_ Một chỗ không thể dung được 2 con chim. Đời bây giờ người có tài nếu không dùng thì tất đem giết chết, cứ gì phải có tội?

Hàn Phi bèn khẳng khái ngâm thơ, đêm ấy lấy giải mũ tự thắt cổ.


Thí dụ C: Cách đối đãi với người sẽ làm thịt mình

Một hôm, Vua Tần cùng Lý Tư bàn việc, khen tài Hàn Phi, ngỏ ý tiếc Hàn Phi đã chết.

Lý Tư nói:
_ Tôi xin tiến cử một người họ Úy tên Liêu, người ở Đại Lương, tinh thông binh pháp, tài gấp 10 Hàn Phi.

Vua Tần hỏi:
_ Người ấy ở đâu ?

Lý Tư nói:
_ Hiện nay người ấy ở Hàm Dương, nhưng người này rất tự phụ, không thể lấy lễ bề tôi mà dùng được.

Vua Tần bèn cho đi mời theo lễ tân khách.
Úy Liêu đến, thấy Vua Tần chỉ vái dài không lạy. Vua Tần đáp lễ gọi là Tiên Sinh. Úy Liêu nói:
_ Đối với 1 nước mạnh như Tần, hễ các nước lìa nhau thì dễ lấy hết, hợp lại với nhau thì khó đánh. Đại Vương cần nghĩ đến điều này.

Vua Tần hỏi:
_ Muốn cho các nước lìa nhau thì Tiên Sinh có kế gì không ?

Úy Liêu nói:
_ Nay việc cá nước đều do bọn hào thần quyết định, mà bọn này không phải là người trung trí cả, chẳng qua cốt để có nhiều tiền của để vui chơi. Nếu Đại Vương không tiếc tiền của trong kho, đem đút lót cho bọn hào thần các nước ấy, làm rối cái mưu của họ, thì chỉ mất ước 30 vạn cân vàng có thể lấy được hết các nước.

Vua Tần bằng lòng lắm, tôn Úy Liêu làm thượng khách, cho ăn mặc như mình và thường đến quán xá quỳ xin dạy bảo.

Úy Liêu nghĩ: Xét kỹ Vua Tần mũi to, mắt dài, ngực ưỡn, tiếng như gầm. Là người tàn khắc ít ân. Lúc có việc thì chịu khuất với người, lúc xong việc thì khinh bỏ người. Nay thiên hạ chưa thống nhất nên chịu khuất thân với bọn áo vải, nếu đắc chí thì người trong thiên hạ đều sẽ bị làm thịt cả thôi!

Một đêm Úy Liêu bỗng bỏ đi. Kẻ coi quán vội báo với Vua Tần. Vua Tần tưởng như mất cánh tay, vội vã sai người đuổi theo mời lại.
Rồi cùng Úy Liêu lập lời thề, bái làm Thái úy, chủ việc binh, các đệ tử của Úy Liêu đều được làm Đại phu. Vua Tần trích nhiều tiền kho sai các sứ giả đi đến các nước xem bề tôi hiện cầm quyền, được nhà Vua yêu mến, đút lót nhiều tiền để nắm tình hình.

Vua Tần lại hỏi Úy Liêu nên kiêm tính nước nào trước, nước nào sau.

Úy Liêu đáp:
_ Hàn yếu dễ đánh,nên đánh trước. Thứ đến Triệu và Ngụy. Đã thôn tính được ba nước ấy thì đem quân đánh Sở. Sở mất thì Tề không còn.

LẠM BÀN:

Ba người du thuyết Vua Tần, Mao Tiêu và úy Liêu thì thành công, còn Hàn Phi thì thất bại và bị giết.

1. Mao Tiêu giả muốn chết cho đủ số nhưng lại sống và được trọng vọng. Bí quyết can giàn của Mao Tiêu như Vua Tần đã nhận định "những người can trước chỉ kể tội quả nhân chưa hề nói cái lẽ còn mất". Người ta có lỗi, kể lỗi để cho người ta sửa đổi chưa phải là thượng sách, còn chuốc họa vào thân như 27 người can gián Vua Tần. Cho người ta thấy sự lợi hại của việc nhận lỗi và tìm cách chuộc lỗi là điều quan trọng. Làm cho người có lỗi thấy: khi chuộc lỗi thì tăng thêm uy tín, thu phục được những người khác trong thiên hạ. Tất nhiên người ta phải nghe theo.

2. Úy Liêu thì rất mực khôn khéo, mới gặp Vua Tần đã đánh trúng tâm lý, ước muốn của nhà Vua là làm sao đánh bại thôn tính các nước, nên được Vua Tần trọng vọng ngay.
Nhưng sợ Vua Tần không thi hành kế sách của mình, nếu có thi hành thì sau khi các nước bị đánh bại cũng sẽ chết dưới tay Vua Tần. Do đó tìm cách bỏ đi. Vua Tần mời lại, lập lời thề, tức là mưu kế mình sẽ được dùng, mạng sống được bảo đảm, lúc ấy mới tung thêm các sách lược còn lại.

3. Hàn Phi du thuyết thất bại do nhiều lẽ:
_ Thứ nhất là người nước Hàn, nước đang thù địch với Tần.
_ Thứ hai, mặc dù rất giỏi nhưng đưa ra 1 mớ sách vở, phải đọc nghiền ngẫm mới thấy cái hay cái dỡ. Thực chất Vua Tần chỉ cần kế sách được trình bày ngắn gọn, có thể thực hiện được ngay như kiểu Úy Liêu. nếu Hàn Phi nói ngay sách lược thì chưa chắc Lý Tư đã có thì giờ gièm pha và hãm hại được. Bệnh giấy tờ, sách vỡ cũng đã tham gia vào tội sát thân của Hàn Phi.
_ Thứ ba, như người coi ngục đã nói: Một chỗ không dung được 2 con chim. Đời bây giờ, người tài không dùng được thì đem giết, cứ gì phải có tội!

Chắc trước khi vào Tần, Hàn Phi không lường bên cạnh Vua Tần không còn chỗ cho mình, vì đã có Lý Tư. Ưu điểm của người tài là làm những việc ích quốc lợi dân, nhưng khuyết điểm của người tài là khi đã ghen ghét thì gièm pha nhau, giết hại nhau bằng lý luận, dẫn chứng chặt chẽ, độc địa, giết ngưới như không. Cho về thì thêm vây cánh cho kẻ thù, dùng thì sợ phản gián; người bị gièm chỉ có 1 con đường duy nhất là....đi về phía nấm mồ ! Thường người tài hay muốn độc tôn, 1 minh 1 chợ, 1 mình 1 cõi, tha hồ thao túng chính trường choc trời khuấy nước thiên hạ. Chính vì vậy, Chu Du đã từng hộc máu và than thở: "Trời đã sinh Du sao còn sinh ra Lượng".

4. Người ta vì nghề can gián, du thuyết Vua chúa hoặc là nghề làm tham mưu, quân sư như vuốt vảy rồng. Tương truyền ai vuốt thuận theo chiều vảy rồng thì sống, nếu vuốt theo chiều nghịch vảy rồng thì bị cắt chảy máu mà chết.

5. Có người cho rằng, xưa nay kẻ sĩ, mưu sĩ, thường là kẻ làm thuê cho Vua chúa. Nghề làm thuê này rất bấp bênh nguy hiểm. Khi đã thôn tính xong nước địch, săn hết thỏ thì chó săn bị thịt thôi. Tương tự như câu chuyện sau:

Thí dụ D: Còn thưa bốn thuật đem xuống Âm Phủ.

Văn Chủng tâu với Việt Vương Câu Tiễn:
_ Tôi nghe nói: Con chim bay ở trên mây cao chỉ chết vì miếng ăn ngon. Con cá lặn ở vực sâu chỉ chết vì mồi thơm. Nay Chúa công muốn báo thù nước Ngô thì phải tìm xem Ngô thích cái gì thì mới có thể trị nổi.

Câu Tiễn nói:
_ Dẫu tìm được điều họ thích nhưng làm thế nào để trị nổi họ?

Văn Chủng nói:
Tôi nghĩ cách phá Ngô có 7 kế:

1. Chịu tốn của cải làm cho Vua tôi nước Ngô bằng lòng
2. Lấy giá đắt mua thóc để làm nước Ngô thiếu lương thực.
3. Đem mỹ nữ sang dâng nước Ngô làm Vua Ngô bị mê hoặc.
4. Đem thợ khéo, gỗ tốt sang dâng để Ngô làm cung thất tổn hại tiền của.
5. Dùng kẻ mưu thần để làm cho nước Ngô loạn
6. Hại kẻ trung thức làm cho nước Ngô thế cô 7. Tích của, luyện quân để đợi địch suy yếu.

Sau khi thôn tính được nước Ngô, Câu Tiễn lo Văn Chủng có tài làm phản. Một hôm, Câu Tiễn đến thăm Văn Chủng. Văn Chủng giả bệnh. Câu Tiễn cởi thanh kiếm ra, ngồi xuống và hỏi Văn Chủng:
_ ta nghe người chí sĩ không lo cái thân mình chết mà lo cái đạo của mình không thi hành được. Nhà ngươi có bảy thuật ta mới thi hành có ba đã diệt được nước Ngô, còn thừa bốn thuật nhà ngươi định dùng để làm gì?

Văn Chủng nói:
_ Tôi cũng không biết dùng để làm gì!

Câu Tiễn nói:
_ Hay nhà ngươi đem bốn thuật ấy mà mưu hộ cho tiền nhân nước Việt ở dưới âm phủ, phỏng có nên chăng?

Câu Tiễn nói xong lên xe về, bỏ lại thanh kiếm. Văn Chủng lấy xem chính là thanh kiếm của Ngô Phù Sai đưa cho Ngũ Viên tự tử khi trước. Văn Chủng vừa than thở vừa cười, rồi rút gươm tự vẫn. Câu Tiễn nghe tin mừng lắm đem chôn Văn Chủng ở Ngọa Long Sơn.

LẠM BÀN:

1. Hai người phò tá Câu Tiễn lúc hoạn nạn là Phạm Lãi và Văn Chủng. Thôn tính xong nước Ngô, Phạm Lãi xin từ quan và viết thư khuyên Văn Chủng: "Vua Ngô có nói giống thỏ hết thì chó săn tất bị giết, địch quốc đã diệt thì mưu thần chẳng còn. Ngài không nhớ hay sao? Vua Việt môi dài, mỏ quạ là người nhẫn tâm mà ghét kẻ có công. Cùng ở lúc hoạn nạn thì được chứ cùng lúc an lạc thì không được. Nếu Ngài không đi tất có tai vạ." Phạm Lãi cao bay xa chạy nên không gặp tai họa, Văn Chủng chần chừ không quyết nên mang họa vào thân.

2. Biết người và rút lui đúng lúc cũng là mưu kế phòng thân, bảo toàn thân danh và mạng sống của nghề mưu sĩ.

 

KẾ THỨ BA: TÙY TÂM SỞ DỤC (tùy lòng ham muốn)

Tùy tâm sở dục tức là tùy theo lòng ham muốn, không nên đem cái ham muốn của mình áp đặt cho người. Tùy theo sở thích ham muốn của người thì thành công. Áp đặt sở thích ham muốn của mình cho người thì không thành công. Muốn thực hiện kế này, phải biết rõ sự kết hợp giửa người với người: Vì đạo đức, vì chí hướng, vì của cải... Biết được sự kết hợp này thì muốn vào thì vào, muốn ra thì ra, muốn gần thì gần, muốn xa thì xa, muốn được thì được, muốn mất thì mất...nói cách khác là thực hiện mưu kế 1 cách dễ dàng.

Thí dụ: Giá người thấp hay cao
Tô Tần, Trương Nghi từ khi từ tạ Quỷ Cốc Tiên sinh xuống núi, Trương Nghi thì về nước Ngụy, Tô Tần thì về Lộc Dương.Ở nhà, Tần còn có mẹ già, 1 anh 2 em, anh mất sớm, chỉ còn người chị dâu ở góa, 2 em là Tô Đại, Tô Lệ. Mấy năm cách mặt, ngày nay gặp lại, cả nhà ai nấy đều vui mừng. Vài ngày sau, Tô Tần muốn đi chơi các nước, mới xin mẹ già cho bán gia tài để làm hành phí, mẹ già, chị dâu hết sức can ngăn, nói rằng:
_ Quý Tử không chịu cày cấy, buôn bán làm ăn, chỉ muốn đem mấy tấc lưỡi để kiếm giàu sang, bỏ cái nghiệp đã thành cầu cái lợi chưa được, sau này nghèo túng còn hối sao được?

Tô Đại, Tô Lệ cũng nói rằng:
_ Anh nếu giỏi thuật du thuyết, sao không đến thuyết ngay Chu Vương, cũng có thể thành danh được ở bản hương, cần gì phải đi đâu xa?

**********

Tô Tần bị cả nhà ngăn trở, bèn đến xin yết kiến Chu Hiến Vương, bày tỏ cái thuật tự cường, Vương mời lại ở quán xá; tả hữu đều biết Tô Tần vốn con nhà làm ruộng, ngờ chỉ là người nói hão huyền, không có thực dụng, không chịu cất nhắc với Chu Hiến Vương. Tô Tần lưu lại quán xá đến hơn 1 năm trời không thể tiến thân được, bực tức bỏ về nhà, bán hết gia sản được 100 dật hoàng kim, may được 1 cái áo lông điêu màu đen, sắm sửa xe ngựa, có đủ kẻ hầu người hạ, rồi du lịch các nước,xem hình thể núi sông và phong tục nhân dân, rõ hết các điều lợi hại trong thiên hạ. Như thế đến vài năm, mà vẫn chưa gặp Vua nào biết dùng; Tô Tần nghe nói Vệ Ưởng được phong làm Thương quân, được Tần Hiếu Công tin dùng lắm, bèn đi sang Hàm Dương, nhưng đến nơi thì tần Hiếu Công đã mất, Thương Quân cũng chết, bèn xin vào yết kiến Huệ Văn Vương.

Huệ Văn Vương cho triệu Tần vào trong điện hỏi rằng:
_ Tiên sinh không quản ngàn dặm xa xôi mà đến tệ ấp, chẳng hay có điều gì dạy bảo quả nhân?

Tô Tần thưa rằng:
_ Tôi nghe nói Đại Vương đòi chư hầu cắt đất để hiến cho nước Tần, ấy có phải muốn ngồi yên mà kềm chế thiên hạ chăng?

Huệ Vương nói:
_ Phải!

Tần nói:
_ Đại Vương Đông có Hàm Cốc, Hoàng Hà; Tây có Hán Trung; Nam có Ba Thục; Bắc có Hồ Lạc; bốn mặt đều thiên hiểm; đồng ruộng tốt có ngàn dặm, quân lính giỏi có trăm vạn. Trên có cái Đức của Đại Vương, dưới có ức triệu sĩ dân, dựa vào đó, tôi xin hiến mưu ra sức làm cho Đại Vương kiêm tính được chư hầu, thống nhất thiên hạ thay nhà Chu mà xưng Đế dễ như trở bàn tay. Có lẽ nào cứ khoanh tay ngồi yên mà thành sự được?

Huệ Văn Vương vừa mới giết Thương Ưởng xong, trong lòng vẫn ghét những tay du thuyết, bèn từ chối rằng:
_ Quả nhân nghe nói lông cánh chưa đủ thì không thể bay cao. Những lời nói của tiên sinh, tiếc rằng quả nhân ngày nay chưa đủ sức làm, vậy xin đợi vài năm nữa, binh lực đủ, bấy giờ sẽ bàn đến việc ấy.

Tô Tần lui ra, lại đem cái thuật của tam vương ngũ bá dùng công mà chiếm được thiên hạ chép thành 1 cuốn sách dày, cộng hơn 10 vạn chữ, hôm sau đem dâng Tần Vương, Tần Vương cũng có xem, nhưng tuyệt nhiên không có ý lưu Tô Tần lại.

Tô Tần lại đến yết kiến Tướng quốc Công Tôn Diễn, ông này có lòng ghen tài, không chịu dẫn tiến. Tô Tần ở lại nước Tần hơn 1 năm, trăm dật hoàng kim đều đã dùng hết, chiếc áo lông điêu màu đen cũng rách mướp, không còn biết xoay vào đâu, phải bán xe ngựa và đầy tớ lấy tiền làm lộ phí, rồi quẩy khăn gói đi bộ về nhà.

Mẹ già thấy bộ Tô Tần lúng túng thì đem lời mắng nhiếc; vợ đang dệt cửi trông thấy cứ ngồi yên, chẳng chạy ra chào hỏi; Tần đói quá, xin chị dâu cho cơm ăn, chị dâu chối là nhà không có củi, không chịu nấu cơm cho ăn.

Tần chảy nước mắt nói rằng:
_ Người ta mà nghèo hèn thì vợ không coi là chồng, chị dâu không còn coi là em, mẹ không còn coi là con nữa. Đó là cái tội của ta!

**********


Rồi lục tìm trong hòm sách , được quyển Thái Công Âm Phù, sực nhớ rằng Quỷ Cốc có nói du thuyết không gặp, chỉ nên đọc cuốn sách này, tự khắc có tiến ích. Bèn đóng cửa xem sách, suy tìm nghĩa kín cho bằng được, ngày đêm không nghĩ; đêm mỏi mệt quá muốn ngủ, thì tự cầm dùi đâm vào đùi máu chảy khắp chân. Khi hiểu hết nghĩa lý tinh vi trong sách, lại xem hình thế các nước, xem xét kỹ càng, như thế trong 1 năm, đại thế thiên hạ như được nắm trong bàn tay, liền tự an ủi rằng:
_ Tần này với sức học như thế, nay đem ra mà du thuyết với Vua các nước, há lại chẳng thấy được ngôi khanh tướng, làm nên giàu sang ư?

Tần bèn bảo 2 em là Đại, Lệ rằng:
_ Sự học của ta đã thành, có thể lấy giàu sang như bỡn , các em nên giúp ta món tiền hành lý để ta du thuyết các nước, nếu có ngày xuất thân ta sẽ dắt các em.

Lại lấy quyển Âm Phù giảng giải cho 2 em. Đại, Lệ cũng đều hiểu biết, nên giúp cho Tần món tiền hành lý.

Tần từ biệt mẹ, vợ và chị dâu, muốn đi sang nước Tần nhưng lại nghĩ rằng: Ngày nay trong bảy nước chỉ có nước Tần là mạnh hơn cả, có thể giúp nên đế nghiệp, nhưng trước kia Vua Tần đã không chịu dùng ta, nay lại đến, nếu lại như trước, thì còn mặt mũi nào trở về làng cũ nữa? Bèn nghĩ 1 kế làm cho các nước đồng lòng hợp sức với nhau để nước Tần trở nên cô thế. Nghĩ vậy bèn sang nước Triệu.

Bấy giờ Triệu Túc Hầu ở ngôi, em trai là Công Tử Thành là Tướng Quốc, gọi là Phụng Dương. Phụng Dương quân không thích nghe.

***********


Tần bèn bỏ Triệu sang Yên, xin vào yết kiến Yên Văn Công, nhưng những người tả hữu chẳng ai giúp: Ở hơn 1 năm tiền lương đã cạn, phải nhịn đói ở nhà trọ, người trong nhà trọ động lòng thương, cho vay 100 dồng tiền, Tần nhờ đó mà có cái ăn. Bỗng gặp lúc Yên Văn Công đi chơi, Tần phủ phục bên đường. Văn Công hỏi họ tên, biết là Tô Tần, mừng mà nói rằng:
_ Nghe nói tiên sinh năm trước dâng 1 tập thư 10 vạn chữ cho Vua Tần, quả nhân lòng hâm mộ, tiếc vì không được tập thư ấy, nay tiên sinh hạ cố đến, thực là may cho nước Yên lắm!

Nói rồi quay xe về triều, cho triệu Tần vào, cúi đầu mà xin lời dạy bảo.Tô Tần tâu rằng:
_ Đại Vương ở trong hàng Chiến Quốc, đất vuông hai nghìn dặm, binh giáp vài mươi vạn, xe 600 cỗ, ngựa 6000 con, nhưng so với Trung Nguyên thì không bằng một nửa; vậy mà tai không nghe tiếng ngựa sắt giáo vàng, mắt không thấy cái nguy đổ xe chém tướng, được yên ổn như thế này Đại Vương có biết vì cớ gì không?

Yên Văn Công nói:
_ Quả nhân không biết.

Tần lại nói:
_ Nước Yên sở dĩ không bị binh đao là nhờ có nước Triệu đứng che, Đại Vương không biết kết giao với nước Triệu gần mà lại cắt đất để nịnh nước Tần xa chẳng là dại lắm ư!

Yên Văn Công nói:
_ Vậy thì làm thế nào?

Tần thưa rằng:
_ Cứ như ý ngu này, chi bằng kết thân với Triệu rồi kết liên với các nước, cùng nhau hợp sức chống Tần, đó là cái yên trăm đời đó!

Yên Văn Công nói:
_ Tiên sinh muốn dùng kế hợp tung để yên nước Yên, đó là sở nguyện của quả nhân nhưng sợ chư hầu không cùng lòng thì sao?

Tần nói:
_ Tôi dẫu bất tài, xin diện kiến chư hầu để định tung ước.

Yên Văn Công cả mừng, giúp vàng bạc và xe ngựa, sai tráng sĩ đưa Tần sang Triệu. Bấy giờ Phụng Dương quân Triệu Thành đã mất, Triệu Túc hầu nghe nước Yên đưa khách đến, bèn xuống thềm đón, nói rằng:
_ Thượng khách hạ cố đến đây, có điều gì dạy bảo quả nhân?

Tô Tần tâu rằng:
_ Tôi nghe nói hiền sĩ trong thiên hạ đều ngưỡng mộ cái đức của quân hầu và muốn bày tỏ tâm phúc, chỉ vì Phụng Dương quân là người ghen ghét tài năng, cho nên những du sĩ đều dừng chân không tiến, cuốn lưỡi không nói, nay Phụng Dương quân đã mất, nên tôi mới đến dâng tấm ngu trung. Tôi nghe: Giữ nước không gì bằng yên dân, yên dân không gì bằng chọn nước mà giao hiếu. Nay các nước ở Sơn Đông chỉ có Triệu là mạnh, đất rộng hơn hai nghìn dặm, quân lính có vài mươi vạn, xe nghìn cỗ, ngựa vạn con, thóc đủ dùng trong vài năm, Tần ghét nhất là Triệu, vậy mà không dám đánh Triệu là sợ có Hàn, Ngụy đánh úp ở đàng sau. Cho nên làm phên giậu phía nam cho nước Triệu là Hàn, Ngụy; nhưng hai nước ấy không có núi sông hiểm trở, một ngày kia quân Tần đánh lấn 2 nước, hai nước đầu hàng thì họa sẽ đến nước Triệu ngay. Tôi thường xem xét địa đồ thấy đất đai các nước hơn Tần ngàn dặm, quân sĩ các nước cũng nhiều gấp 10 Tần, nếu 6 nước cùng hợp làm 1, cùng nhằm về phía tây, thì phá Tần chẳng khó gì. Nay nước Tần hiếp bách các nước, bắt các nước cắt đất để cầu hòa. Không vì cớ gì mà cắt đất đó là tự mình phá mình. Mình phá người và mình bị phá, trong 2 điều đó, điều nào là hơn. Theo như ý tôi, chi bằng ước với Vua các nước đến hợp ở Hằng Thủy, cùng nhau ăn thề, kết làm anh em, Tần đánh 1 nước thì 5 nước cùng cứu; nếu nước nào trái lời thề, thì các nước cùng đánh. Tần dẫu cường bạo, khi nào dám đem 1 nước cô thế để tranh được, thua với cả thiên hạ?

Triệu Túc hầu nói:
_ Quả nhân tuổi trẻ, nhận việc nước chưa được mấy năm, chưa hề được nghe diệu kế, nay thượng khách muốn hợp chư hầu để cự Tần, quả nhân xin 1 lòng nghe theo.

Rồi giao ngay Tướng Ấn cho Tô tần, ban cho 1 tòa nhà lớn, lại cho trăm cỗ xe, nghìn dật hoàng kim, trăm đôi bạch bích, gấm vóc nghìn tấm, cử là Tung Ước trưởng.

Tô Tần đi sang nước Hàn, vào yết kiến Tuyên Huệ Công nói rằng:
_ Nước Hàn rộng hơn 900 dặm, có vài mươi vạn quân, những cung nỏ cứng ở trong thiên hạ, đều ở nước Hàn mà ra cả. Nay Đại Vương thờ Tần, tất Tần đòi cắt đất làm tin, sang năm sẽ lại đòi nữa, đất cát của Hàn có hạn mà lòng tham của Tần vô cùng; hai ba lần Hàn phải cắt đất thì đất Hàn hết mất. Tục ngữ có nói: Thà làm đầu gà chớ làm đuôi trâu. Đại Vương có đức hiền, lại có quân mạnh mà chịu cái tiếng đuôi trâu, tôi lấy làm xấu hổ lắm!

Tuyên Huệ Vương nói:
_ Quả nhân xin đem cả nước mà nghe lời dạy của tiên sinh, theo thư ước của Triệu đã định.

Rồi cũng tặng Tô Tần trăm dật hoàng kim. Tô Tần lại lần lượt đi đến các nước Ngụy, Sở, Tề, đến nước nào cũng nói các lẽ lợi hại của nước ấy, kết cục bảo nên cùng liên hợp cho mạnh sức để chống lại Tần. Vua nước nào cũng lấy làm phải và xin theo như kế hợp tung của Tô Tần. Tần liền về báo với Triệu Túc Hầu.

***********


Khi Tần đi qua Lạc Dương, các nước đều sai sứ đi tiễn, nghi trượng cờ quạt, tiền hô hậu ủng, xe ngựa và xe chở đồ nặng liên tiếp đến 20 dặm không hết, uy nghi không khác gì đấng Vương giả; đi dọc đường, các quan viên đều ra lạy chào.

Chu Hiến Vương nghe Tô Tần sắp đến, sai người quét dọn đường sá sạch sẽ và bày cung trướng ở ngoài châu thành để đón.

Bà mẹ già của Tần cũng chống gậy đi ra đường xem, 2 em trai, chị dâu và vợ tần đều nghiêng mắt không dám trông lên, phủ phục cả ở ngoài bãi để đón.

Tô Tần ngồi ở trong xe, hỏi chị dâu rằng:
_ Trước kia chị không nấu cơm cho tôi ăn, sao ngày nay lại cung kính quá như thế?

Người chị dâu nói:
_ Tôi thấy Quý Tử ngày nay ngôi cao và tiền nhiều, nên tôi kính sợ.

Tô Tần ngậm ngùi than rằng:
_ Tình đới xem giá lạnh, giá người thành thấp cao, ta ngày nay mới biết sự giàu sang là cần có lắm!

LẠM BÀN:

1. Qua đoạn trích từ Vua chúa đến thứ dân mỗi người có mỗi sở thích khác nhau: mẹ, anh em , vợ của Tô Tần thích Tần học buôn bán cày ruộng, thích giàu có cao sang. Tô Tần thì thích làm nghề du thuyết, làm khanh làm tướng. Cùng 1 kế sách của Tô Tần, Vua Tần đọc không thích, Vua Yên đọc lại thích thú.

2. Mối quan hệ cũng khác nhau: Giửa Tô Tần với vợ, chị dâu, anh em không chỉ là ruột thịt mà còn có sự quan hệ của danh vọng tiền bạc. Vì vậy Tô Tần mới ngậm ngùi than: Tình đời giá lạnh, giá người thấp cao...

3. Sự liên minh của các nước là do lợi lộc. Tô Tần đã đánh trúng vào tâm lý hám lợi của các Vua chúa. Có người cho rằng hợp tung liên hoành lấy lợi lộc làm đầu. Liên kết với nhau là do lợi lộc. Tan rã cũng do vàng bạc. Thuyết dĩ lợi vi tiên, chữ lợi làm đầu đời nào cũng có, nhưng có lẽ thời chiến quốc là thịnh hành và náo nhiệt nhất. Có nước vừa uống máu ăn thề liên minh với nhau, nhưng máu chưa khô thì đã bội ước. đám mưu sĩ hợp bàn với nhau để chống liên minh của nước khác chẳng qua là kiếm danh vọng lợi lộc. Khi bị vàng bạc chi phối, há miệng mắc quai, thì ai đi đường nấy.

4. Xét cho cùng, sở thích của con người tạo sức mạnh. Biết đánh trúng vào sở thích của 1 cá nhân cũng là 1 mưu kế

 

Hư khích là vết nứt, khe hở, kẽ hở. Là sách lược tìm ra vết nứt, khe hở, kẽ hở, hoặc tạo ra sự rạn nứt, chia rẽ trong nội bộ hàng ngũ đối phương. Kẽ hở càng to, sự rạn nứt, chia rẽ càng lớn thì đối phương càng suy yếu, nhân đó mà thôn tính. Nói cách khác là tìm cách ly gián nội bộ đối phương, được áp dụng trong ngoại giao và quân sự.

1. Theo qui luật vạn vật sinh rồi diệt, con người có hợp thì có tan. Trong quá trình sinh diệt hợp tan tất nhiên là sẽ sinh ra vết rạn, vết nứt. Nếu không quan sát, nghiên cứu thì khó phát hiện được vết rạn và vết nứt.

2. Thông thường sự rạn nứt, chia rẽ được biểu hiện: Thiên hạ không có minh chủ, đạo đức của các chư hầu suy đồi. Những bậc thánh nhân, những người trung lương lui về thoái ẩn, bọn tiểu nhân đắc chí ngênh ngang. Kỷ cương đất nước tan rã. Nhân dân kết bè, kết đảng công kích sát phạt lẫn nhau, chém giết nhau, nhiều người không chốn nương thân. Gia đình cha con ly tán, vợ chồng bất hòa.

3. Vì thế trong việc trị nước luôn luôn quan sát, nghiên cứu, nếu có vết rạn nứt, hiện tượng chia rẽ manh nha thì phải tìm cách ngăn chận, đề kháng, nếu cần phải trấn áp và tiêu diệt, không để sự nứt rạn chia rẽ ngày càng phát triển.

4. Sách lược này có 4 kế:
- Làm cho đối phương nghi ngờ nhau (Công bố nghi vấn)
- Khoảng giửa hư và thực (Hư thực chi gian)
- Sắc đẹp phụ nữ nguy hiểm như dao kiếm (Nữ sắc như dao)
- Thấy trước sự việc (Kiến ngự tri trước)

 

KẾ THỨ NHẤT: CÔNG BỐ NGHI VẤN (làm cho đối phương nghi ngờ nhau)



Công bố nghi vấn là làm cho đối phương nghi ngờ lẫn nhau, nghi kỵ và chia rẽ. Là phân quyền để chuyên quyền. Phá vỡ sự liên kết, liên minh của đối phương và củng cố thêm lực lượng liên minh, liên kết của mình để đánh bại đối phương. Trong gia đình vợ chồng nghi ngờ nhau thì tan rã. Trong 1 nước nghi ngờ thần tử thì không còn sức mạnh.

Thí dụ A: Sức mạnh của vàng

Hán, Sở tranh hùng; Sở tấn công gấp, phá đường vận lương của Hán, vây Hán Vương ở Vinh Dương. Đôi bên giằng co mãi, Hán Vương lấy làm lo, xin cắt đất từ Vinh Dương trở về Tây để cầu hòa. Hạng Vương không nghe.

Hán Vương nói với Trần Bình:
_ Thiên hạ rối bời, bao giờ mới yên ?

Trần Bình nói:
_ Hạng Vương là người lễ độ và yêu người, những kẻ sĩ tiết tháo và hiếu lễ về với ông ta thì nhiều. Nhưng khi luận công phong tước thì ông ta lại tỏ ra hẹp hòi, cho nên nhiều người không tán thành. Đại Vương đây thì khinh mạn, sống sượng, những kẻ sĩ tiết tháo không tới giúp, nhưng Đại Vương phong thưởng rộng rãi, chính vì vậy mà những kẻ sĩ ngoan độn, ham lợi, vô sĩ phần nhiều xu phụ Đại Vương. Nếu Đại Vương bỏ được cả 2 sở đoản mà thái thủ được cả 2 sở trường thì việc bình định thiên hạ cũng dễ và lẹ. Nhưng Đại Vương khinh người quá đỗi, không thu dụng được những kẻ sĩ tiết tháo. Về phía Sở, vẫn có thể có mầm loạn. Đám bầy tôi trung trực của Hạng Vương bất quá chỉ có mấy người, đại khái như Á Phụ, Chung Li Muội, Long Thư, Chu Ân. Nếu Đại Vương chịu bỏ ra vài vạn cân vàng để thi hành kế phản gián, ly khai Vua tôi họ với nhau, làm cho họ ngờ vực lẫn nhau, thì Hạng Vương vốn là người đa nghi va tin lời gièm pha, trong nội bộ họ tất sẽ xảy ra cái việc chém giết lẫn nhau. Thừa dịp, Hán sẽ cất quân tấn công, và việc phá tan Sở là việc chắc chắn.

*********

Hán Vương cho là phải, bỏ ra bốn vạn cân vàng, giao cho Trần Bình tùy ý sử dụng, muốn làm gì thì làm, không cần tính toán. Tung vàng ra phản gián quân Sở rồi, Trần Bình công khai tuyên bố rằng những tướng lãnh của Sở như bọn Chung Li Muội lập được nhiều công trạng mà vẫn không được chia đất, phong Vương, cho nên họ muốn hợp lực với nhà Hán mà diệt họ Hạng để được phong Vương, cùng chia đất Sở.

Quả nhiên, Hạng vương không tin bọn Chung Li Muội nữa. Sinh nghi rồi, Hạng Vương sai sứ sang Hán. Hán Vương đãi sứ bằng cỗ thái lao.

Lúc tiếp kiến sứ giả, Hán Vương giả vờ kinh ngạc, nói:
_ Ta ngỡ là sứ giả của Á Phụ (tức Phạm Tăng), hóa ra sứ giả của Hạng Vương.

Rồi cho bưng mâm cỗ thái lao đi mà chỉ thết sứ giả của Sở 1 bữa cơm rau tồi tệ, sứ giả về báo cáo hết với Sở Vương. Quả nhiên Sở Vương ngờ vực Á Phụ. Á Phụ muốn tấn công, hạ gấp thành Vinh Dương, Hạng Vương không tin, không chịu nghe. Biết bị Hạng Vương ngờ, Á Phụ giận nói:
_ Việc thiên hạ êm đẹp lắm rồi, xin Đại Vương tự lo liệu lấy, cho phép nắm xương tàn này được rút lui.

Á Phụ ra đi, chưa tới Bành Thành thì lên hậu bối, chết.

Trần Bình cho 2000 đàn bà con gái đang đêm theo cửa Đông thành Vinh Dương kéo ra. Quân Sở được dịp vây đánh. Trần Bình bèn cùng Hán Vương đang đêm theo cửa Tây ra thoát thành Vinh Dương. Vào Hàm Cốc thu thập tàn quân, Hán Vương lại tiến sang Đông...

Theo kỳ kế của Trần Bình, rốt cuộc Hán diệt xong Sở.

LẠM BÀN:

1. Tình hình của Hán, Lưu Bang, rất nguy ngập, bị bao vây, bị cắt đường vận lương, giảng hòa Sở lại không chịu. Nhưng Lưu Bang thoát hiểm, tranh được thiên hạ là nhờ kế của Trần Bình.

2. Trần Bình phân tích ưu khuyết về cá tính, sở trường sở đoản của Lưu Bang và Hạng Vũ, vừa phân tích về liên minh của 2 bên, và đưa ra kế ly gián. Một khuyết điểm nghiêm trọng nhất của Hạng Vũ là keo kiệt và đa nghi, đã làm cho Hạng Vũ mất Chung Li Muội và phạm Tăng, bỏ lỡ cơ hội bắt Lưu Bang. Rơi vào thế thả hổ về rừng, thả rồng ra bể, dẫn đến bi kịch trận Cai Hạ.

3. Có người cho rằng Lưu Bang là tên vô lại, lưu manh, nhưng ưu điểm của Lưu Bang là biết nghe lời mưu sĩ, kể cả những lời nói thẳng về sở đoản và khuyết điểm của mình như lời Trần Bình. Lưu Bang hơn người là biết kềm chế cá tính của mình. Ví dụ khi nghe Hàn Tín không đem quân cứu viện còn đòi xưng Vương, Lưu Bang tức giận chửi toáng lên. Trần Bình đá nhẹ vào chân. Thế là Lưu Bang đổi giận làm vui phong Hàn Tín làm Vua. Sau khi lấy được thiên hạ lừa cơ hội bắt và luộc Hàn Tín. Tín chỉ có việc than trời trách đất.

4. Kế này còn gọi là kế phản gián. Binh pháp chia ra nhiều loại: nhân gián, nội gián, phản gián, tử gián, sinh gián.
a/ Nhân gián là dùng người bản xứ làm gián điệp.
b/ Nội gián là mua chuộc quan chức nước đối phương cung cấp tình hình.
c/ Phản gián thu phục gián điệp của địch để làm việc cho mình.
d/ Tử gián là cố tạo nguồn tin, tiết lộ bí mật của mình cho địch biết. Khi địch phát hiện không phải là tin thật có thể giết kẻ đưa tin.
e/ Sinh gián là lợi dụng 1 số người có thể tự do ra vào đất địch để nắm tin tức.

Trong mối liên kết của con người có nhiều hình thức vì nhân nghĩa, vì cùng mục đích, nhưng cũng không ít người liên kết với nhau vì quyền lợi. Căn bản của thuật phản gián hoặc công bố nghi vấn là đánh vào lòng hám lợi của con người. Lợi lóa mắt sẽ quên hết nghĩa. Bốn vạn cân vàng làm chia rẽ Vua tôi của Hạng Vũ không phải là đắt, để sau này nuốt chửng cả đất của Sở Vương.

 



Trong lịch sử không ai coi thường và khinh bĩ lòng hám lợi, tham vàng của bọn mưu sĩ bằng Phạm Tuy, ông so sánh họ với đàn chó và miếng xương

 

THÍ DỤ  B  :  ĐÀN CHÓ VÀ MIẾNG XƯƠNG 

 
       Mưu sĩ các chư hầu tụ tập ở nước Triệu , bàn việc hợp tung  muốn liên kết nhau  để đánh nước Tần. Vua tần có ý sợ . Tướng Tần là Ứng Hầu Phạm nói  :
      _ Đại vương hà tất phải lo , để thần đi làm tan rã bọn họ. Nước Tần không có oán thù gì với các mưu sĩ chư hầu. Họ tụ tập nhau để đối p[hó với Tần chẳng qua hòng kiếm chút vinh hoa  phú quý mà thôi. Đại Vương có thấy đàn chó của Đại Vương không ?
         Con nằm , con đứng , con ngồi im 1 chỗ , chúng không hề tranh giành nhau. Nhưng nếu Đại Vương vất miếng xương , chúng sẽ tranh giành , cắn xé nhau chí tử.
        Thế là Vua Tần sai Đường Miêu dẫn đội nhạc đem theo 5000 lạng vàng , đóng quân ở Võ An ngày ngày đãi bọn mưu sĩ.
        Đường Miêu chưa tiêu hết 3000 lạng vàng mưu sĩ các chư hầu đã cãi cọ tranh giành nhau , không còn ai bàn đến chuyện hợp tung đánh Tần.

 

KẾ THỨ HAI  :  HƯ THỰC CHI GIAN  ( kẽ hở giửa hư và thực )
 
Hư thực chi gian tức là kẽ hở giửa hư và thực. Trong khoảnh khắc làm cho đối phương không phân biệt đâu là thực đâu là hư , đâm ra lúng túng , hoang mang.
Khi đối phương hoang mang , lúng túng thì bộc lộ yếu điểm , thừa cơ đánh vào yếu điểm thì địch thất bại.
Kế này dựa trên nguyên tắc vận động sinh diệt , hợp ly của vạn vật. Trong quá trình vận động thì sẽ sinh ra kẽ hở.

THÍ DỤ   :  TÊN KHÔNG RỜI DÂY CUNG MÀ CHẾT NGƯỜI .
 
        Đấu Việt Tiêu và Dưỡng Do Cơ , hai người bắn cung rất giỏi , thách đấu ở bên bờ sông , mỗi người bắn ba phát , ai may thì sống ai chết thì chịu.
       Đấu Việt Tiêu đứng ở nhịp cầu bên kia , giương cung bắn ngay 1 phát , tưởng rằng Dưỡng Do Cơ sẽ lộn cổ xuống sông mà chết. Không ngờ Dưỡng Do Cơ tay cầm đốc cung gạt 1 cái , mũi tên rơi xuống sông.
       Dưỡng Do Cơ lại quát to :
       _ Bắn nữa đi ! Bắn nữa đi !
       Đấu Việt Tiêu giương cung nhằm thẳng vào Dưỡng Do Cơ bắn luôn 1 phát nữa. Dưỡng Do Cơ ngồi sụp xuống , mũi tên vút qua đầu bay thẳng. Đấu Việt Tiêu nói :
       _ Nhà ngươi nói tránh là không giỏi , sao còn ngồi sụp xuống , không phải là trượng phu !
       Dưỡng Do Cơ nói  :
       _ Quan lệnh doãn bắn 1 phát nữa , đến phát này thì tôi không dám tránh .
       Đấu Việt Tiêu nghĩ thầm  :  Phát này chắc trúng.
       Dưỡng Do Cơ đứng vững 2 chân , không cựa quậy. Chờ mũi tên đến há mồm cắn chặt mũi tên.
       Đấu Việt Tiêu bắn hết 3 mũi tên không giết được Dưỡng Do Cơ nên rất sợ hãi , nhưng trót đã giao ước phải đứng cho Dưỡng Do Cơ bắn trả.
       Dưỡng Do Cơ giả cách giương cung bắn nhưng tay vẫn giử nguyên lấy tên. Đấu Việt Tiêu nghe tiếng dây cung nghiêng mình né tránh về phía trái.
       Dưỡng Do CƠ lại giương cung , Đấu Việt Tiêu lại né tránh về phía phải.
       Thừa cơ Đấu Việt Tiêu né tránh Dưỡng Do Cơ buông tên , mũi tên xuyên qua sọ. Đấu Việt Tiêu chết tại trận.

LẠM BÀN : 
1/. Về nghề bắn tên bách phát bách trúng , chưa chắc Dưỡng Do Cơ đã hơn Đấu Việt Tiêu.
    Đấu Việt Tiêu tốn hết 3 mũi tên không hạ được Dưỡng Do Cơ vì Đấu Việt Tiêu chỉ ỷ vào tài bắn , không áp dụng mưu kế.
    Dưỡng Do Cơ vừa có nghề bắn tên vừa ứng dụng mưu kế thực hư , hư thực , thực thực , hư hư...làm cho đối phương hoang mang , lúng túng , không biết đâu mà né tránh. Chỉ cần 1 mũi tên để kết liễu Đấu Việt Tiêu. Mưu kế gắn liền với sở trường thì sức mạnh tăng lên gấp bội.
2/. Mưu kế làm cho đối phương không phân biệt đâu là thật , đâu là giả quả là lợi hại. Khi đã không phân biệt được thực giả thì có kẽ hở , nhằm vào kẽ hở ấy mà đánh thì giành được thắng lợi. Ai trúng mũi tên độc hiểm này cũng phải chuộc lấy thất bại không chỉ 1 mình Đấu Việt Tiêu.
3/. Dùng quân không thể không yếm trá , lừa dối , trong cuộc đấu sinh tử cũng không thể trách Dưỡng Do Cơ là không phải kẻ trượng phu. Đấu Việt Tiêu có tài năng nhưng không có mưu kế cũng phải chịu chết.
4/. Con người có kẻ thích yên tĩnh , có kẻ thích hành động , có người hám danh , có kẻ hám lợi , có người chính trực , có kẻ xiểm nịnh , có người thích nơi sáng láng , có kẻ thích u tối.
     Muốn thắng đối phương phải biết yếu điểm của đối phương và đánh vào yếu điểm của đối phương

No comments: