Tuesday, March 11, 2008

Tránh sập bẫy khi khởi nghiệp

Tránh sập bẫy khi khởi nghiệp

Xem hình

 

Theo thống kê của các nhà nghiên cứu thị trường, nhiều doanh nghiệp không có cơ hội kỷ niệm sinh nhật lần thứ 2 của mình và bị "khai tử" ngay trong năm đầu hoạt động. Thương trường với luật chơi khắc nghiệt của nó không bao giờ nương tay đối với những doanh nghiệp "ngây thơ".

Để có thể tồn tại lâu hơn trong môi trường cạnh tranh ngày một gay gắt, các doanh nghiệp trẻ nên hết sức chú ý để tránh sa vào những "cái bẫy" dẫn đến sai lầm trong chiến lược hoạt động và phát triển.


Bẫy thứ nhất: Quá quan tâm tới khách hàng mà không để ý đến vấn đề tài chính

Có nhiều doanh nghiệp lâm vào cảnh vỡ nợ chỉ bởi vì họ tập trung quá nhiều vào doanh thu mà xem nhẹ khâu quản lý công việc kinh doanh. Để tránh rơi vào tình trạng này, bạn nên lập bảng theo dõi để dễ dàng kiểm tra hàng tuần. Bảng theo dõi này ít nhất phải bao gồm doanh thu, lợi nhuận biên, ngân quỹ, số lượng hàng bán được, chi phí…


Mỗi quý cần kiểm tra xem nhu cầu khách hàng tăng trưởng như thế nào để có mức cung phù hợp. Bạn đã phân tích nhu cầu tiềm năng của khách hàng hay chưa? Bạn đã có kênh phân phối tốt chưa? Giá cả có cạnh tranh được với thị trường hay không? Đối với vấn đề tài chính, ba câu hỏi cần đặt ra là: tôi phải thu cái gì, tôi phải trả cái gì và tôi còn bao nhiêu tiền trong tài khoản?

Để làm được việc này, bạn nên tuyển một kế toán giàu kinh nghiệm. Họ sẽ giúp bạn phát hiện những bất thường trong vấn đề tài chính để cảnh báo bạn kịp thời.


Bẫy thứ hai: Không dám đàm phán với chủ nợ

Trong trường hợp gặp khó khăn về tài chính, nhiều chủ doanh nghiệp không dám đàm phán với ngân hàng cho họ vay tiền mà quên mất rằng, nếu doanh nghiệp của mình đóng cửa thì ngân hàng đó cũng không lấy lại được số tiền đã cho vay. Điều này có nghĩa là ngân hàng thường sẵn sàng đàm phán với bạn.


Bẫy thứ ba: Yếu kém trong việc phân tích các nguồn khách hàng có nguy cơ rủi ro cho doanh nghiệp

Chẳng ích gì khi bạn cứ mãi chạy theo một hợp đồng không có khả năng thanh toán. Chính vì vậy, việc quan trọng nhất là phải tìm hiểu khả năng tài chính của khách hàng. Tuy nhiên, khi không may gặp phải khoản nợ khó đòi, bạn có thể nhờ sự trợ giúp của các cơ quan pháp luật hoặc các công ty đòi nợ chuyên nghiệp.


Bẫy thứ tư: Phụ thuộc vào khách hàng

Đôi khi, doanh nghiệp bị phá sản là do phần lớn nguồn doanh thu phụ thuộc vào một khách hàng chủ chốt nào đó và khi khách hàng này chuyển sang sử dụng dịch vụ của nhà cung cấp khác hoặc rơi vào cảnh phá sản, ngay lập tức họ sẽ bị lao đao theo.

Để tránh nguy cơ này, bạn cần đa dạng hoá nguồn khách hàng đồng thời phải xác định rõ rằng, nguồn lợi từ một khách hàng không được chiếm quá 30% doanh thu của công ty. Lý tưởng nhất là đa dạng hoá khách hàng theo loại hình kinh doanh: một phần ba là các doanh nghiệp lớn, một phần ba là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (những đối tượng khách hàng trung thành nhất) và một phần ba là các đơn vị khác.


Bẫy thứ năm: Đầu tư không hiệu quả

Đơn hàng đến dồn dập có thể khiến chủ doanh nghiệp đầu tư tràn lan và tuyển dụng nhân viên ồ ạt trong khi không tính đến tiềm lực tài chính cũng như khả năng thu hồi vốn về lâu dài. Đây chính là một trong những nguyên nhân thất bại cổ điển nhất nhưng cũng là "cái bẫy" nhiều doanh nghiệp mắc phải nhất. Cách phòng tránh hiệu quả là nghiên cứu thị trường thật kỹ lưỡng và nghiêm túc để có hướng đầu tư phù hợp với khả năng của mình, không bị lúng túng hay choáng ngợp khi đơn hàng đổ về nhiều.


Bẫy thứ sáu: Kinh doanh theo kiểu cá thể, đơn lẻ

Một số doanh nghiệp không thể tồn tại nếu họ đứng một mình, không tiếp cận với những tổ chức mang lại cho họ nguồn khách hàng hoặc không tiếp xúc với những chuyên gia tư vấn để có thể nhận được những lời khuyên bổ ích. Tuỳ theo từng loại mặt hàng kinh doanh, bạn có thể tham gia vào các hiệp hội khác nhau, đồng thời liên kết với các doanh nghiệp khác để tận dụng hệ thống phân phối và cũng như khai thác nguồn khách hàng của họ.


Bẫy thứ bảy: Không quan tâm tới việc bảo hiểm sản phẩm hay dịch vụ của mình

Nhiều doanh nghiệp không được bảo hiểm một cách tối ưu nên khi gặp sự cố, một mình họ không thể xoay sở được. Bảo hiểm là cách tự bảo vệ mình, cũng là chia sẻ rủi ro với những doanh nghiệp khác, vì thế bạn cần tìm hiểu các hình thức bảo hiểm để có thể đưa ra lựa chọn sáng suốt nhất.


Nguồn : DDDN

 

Thanh toán qua mạng dành cho người mua ở Việt Nam

Thanh toán qua mạng dành cho người mua ở Việt Nam

 

Nếu bạn muốn mua qua mạng, trước hết phải có thẻ tín dụng. Việc có một thẻ tín dụng hiện nay đã hết sức dễ dàng và nhanh chóng cho mọi đối tượng.

 

 

Nếu bạn muốn mua qua mạng, trước hết phải có thẻ tín dụng. Việc có một thẻ tín dụng hiện nay đã hết sức dễ dàng và nhanh chóng cho mọi đối tượng. Về chi tiết xin liên hệ ACB hay Vietcombank.
 
Sau khi có thẻ tín dụng, bạn có thể bắt đầu mua hàng, dịch vụ qua mạng. Tuy nhiên, mọi người ai cũng có mối lo ngại bị đánh cắp thông số thẻ tín dụng, từ đó có nguy cơ bị mất tiền, bị phiền toái khi đi kiện cáo với ngân hàng v.v... Những cách thức sau sẽ giúp bạn tự bảo vệ cho "túi tiền" của mình:

  • Khi chuẩn bị mua phải xem kỹ website bán có nổi tiếng không? Ví dụ Amazon là một website rất nổi tiếng, thì ta có thể hoàn toàn tin tưởng.
  • Nếu website bán không phải là website nổi tiếng thì ta nên đọc kỹ thông tin trên website để tìm một địa chỉ vật lý (physical address) như văn phòng đặt ở đâu, số phone, số fax... Đọc các điều khoản mua bán được đăng trên website này, đa số là tiếng Anh và ít ai đọc, song, ta nên chú ý đọc các điều khoản chính như chính sách trả lại tiền, trả lại hàng...
  • Nếu website bán không nổi tiếng, tìm đọc thông tin cũng không cảm thấy rõ ràng... nhưng bạn cần mua, thì hãy xem chỉ số Alexa của website này, nếu thấp hơn 200.000 thì có vẻ yên tâm, vì con số này thể hiện mức độ nổi tiếng của website. Website càng nhiều người xem thì càng ít có nguy cơ gian lận, lừa đảo.
  • Ngoài ra, khi bạn quyết định mua ở một website không nổi tiếng, và là lần mua đầu tiên, khi chuyển sang trang form yêu cầu cung cấp thông số thẻ tín dụng, hãy nhìn lên thanh địa chỉ web của Internet Browser, nếu lúc bấy giờ dòng link đã chuyển sang một domain khác, mà domain này là của một trong những nhà cung cấp dịch vụ xử lý thẻ tín dụng nổi tiếng trên mạng (như 2checkout.com, worldpay.com, clickbank.com...) thì bạn có thể yên tâm mua.
  • Không nên dùng máy tính dùng chung để mua hàng, cung cấp thông tin thẻ tín dụng của mình để tránh trường hợp bị theo dõi những phím đã gõ. Tốt nhất chỉ nên mua từ máy tính cá nhân của mình.
  • Đừng dễ dàng cung cấp thông tin thẻ tín dụng cho những website mang nội dung xấu (khiêu dâm, đồi trụy) hay website lừa đảo với những nội dung không hợp logic (trúng thưởng đặc biệt, chia tiền hưởng gia tài...)

Cuối cùng, mỗi tháng phải kiểm tra kỹ hóa đơn của ngân hàng gửi đến để xem có khoản chi nào mà không phải do mình quyết định chi không? Nếu có thì báo với ngân hàng ngay để còn kịp thời cứu vãn tình huống, vì lúc đó là đã có kẻ đã dùng thẻ tín dụng của bạn để xài "chùa".

Theo Vitanco

 

Cơ chế thanh toán qua mạng

Cơ chế thanh toán qua mạng

 

Trong thanh toán B2C qua mạng, đại đa số người mua dùng thẻ tín dụng để thanh toán. Thẻ tín dụng là loại thẻ Visa, MasterCard... có tính quốc tế, chủ thẻ có thể dùng được trên toàn cầu

 

 

Tên gọi là tín dụng vì chủ thẻ dùng trước tiền của ngân hàng để chi trả, đến cuối tháng chủ thẻ mới phải thanh toán lại cho ngân hàng.


Ở Việt Nam, cá nhân hay tổ chức có thể đăng ký làm thẻ tín dụng với các ngân hàng như ACB, Vietcombank... Trên thẻ có các thông số sau: hình chủ sở hữu thẻ, họ và tên chủ sở hữu thẻ, số thẻ (Visa Electron và MasterCard đều có 16 chữ số), thời hạn của thẻ, mặt sau thẻ có dòng số an toàn (security code) tối thiểu là ba chữ số, và một số thông số khác cùng với các chip điện tử hoặc vạch từ (magnetic stripe). Chủ thẻ cũng được cung cấp PIN Code (Personal Information Number – Mã số cá nhân) để khi rút tiền từ máy, chủ thẻ phải nhập đúng PIN Code này thì máy mới xử lý yêu cầu rút tiền.

Trong thanh toán trực tuyến, chủ sở hữu thẻ không cần quét thẻ cũng như không cần cung cấp thông tin về PIN Code. Vậy làm sao để đảm bảo an toàn cho chủ thẻ không bị người khác sử dụng trái phép thẻ của mình? Một thông số khác có thể được sử dụng bổ sung: thông tin về địa chỉ nhận hóa đơn thanh toán việc sử dụng thẻ do ngân hàng gửi cho chủ thẻ. Những thông tin về thẻ tín dụng người mua phải khai báo khi thực hiện việc mua qua mạng gồm:

    • Số thẻ (16 chữ số được in trên mặt trước thẻ)
    • Họ tên chủ sở hữu in trên thẻ
    • Thời hạn hết hạn của thẻ, cũng in trên mặt trước thẻ
    • Mã số an toàn (security code) là ba chữ số cuối cùng in trên mặt sau của thẻ. Thông số này không bắt buộc phải cung cấp, tùy website có yêu cầu hay không.
    • Địa chỉ nhận hóa đơn thanh toán việc sử dụng thẻ do ngân hàng gửi cho chủ thẻ. Thông số này cũng không bắt buộc phải cung cấp, tùy website có yêu cầu hay không.

Hiện giao thức thanh toán qua mạng được sử dụng là SET (Secure Electronic Transaction – Giao dịch điện tử an toàn) do Visa và Master Card phát triển năm 1996. Hình sau minh họa cách thức xử lý thanh toán qua mạng.


Hình 1 : Quy trình xử lý thanh toán trực tuyến
(Nguồn: Richard Jewson. E-Payments: Credit Cards on the Internet.)

Giải thích quy trình:

    • Người mua đặt lệnh mua trên website của người bán sau khi đã chọn hàng hóa. Sau đó người mua khai báo thông tin thẻ tín dụng của mình.
    • Thông tin thẻ tín dụng của người mua được chuyển thẳng đến ngân hàng của người bán (trong trường hợp người bán có Merchant Account – xem giải thích bên dưới) hoặc chuyển thẳng đến nhà cung cấp dịch vụ xử lý thanh toán qua mạng (gọi là Third Party – Bên thứ ba, xem giải thích bên dưới) mà người bán đã chọn. Thông tin thẻ tín dụng không được lưu trên server của người bán, do đó, hạn chế khả năng bị hacker đánh cắp thông tin.
    • Ngân hàng của người bán hoặc Bên thứ ba này sẽ kiểm tra tính hợp lệ của thẻ với ngân hàng nơi phát hành thẻ, thông qua giao thức SET. Việc kiểm tra này được thực hiện tự động rất nhanh, trong vòng vài giây.
    • Ngân hàng phát hành thẻ sẽ phản hồi (được mã hóa theo quy định) cho ngân hàng của người bán hoặc bên thứ ba về tính hợp lệ của thẻ.
    • Sau đó thông tin này được giải mã và gửi về cho người bán.
    • Người bán dựa trên thông tin phản hồi này quyết định bán hay không bán. Nếu bán thì sẽ gửi email xác nhận cũng như hóa đơn và các văn bản cần thiết khác cho người mua, đồng thời xử lý đơn hàng. Nếu không bán thì giao dịch coi như kết thúc, người bán cũng gửi thông điệp cho người mua, nêu rõ lý do không bán.

Sự khác biệt giữa người bán có Merchant Account và không có:

    • Người bán có Merchant Account: việc xin được Merchant Account không phải dễ dàng, đòi hỏi người bán phải đa phần phải là ở Mỹ, phải có ký quỹ cho ngân hàng, phải có bằng chứng đảm bảo uy tín kinh doanh trên mạng... vì trường hợp này họ được truy cập trực tiếp vào cơ sở dữ liệu của các ngân hàng để kiểm tra tính hợp lệ của thẻ.
    • Người bán không có Merchant Account: không phải người bán nào cũng có thể xin được Merchant Account, nhưng nhu cầu bán hàng qua mạng thì rất cao, từ đó có nhiều công ty xin Merchant Account để cung cấp dịch vụ xử lý thanh toán qua mạng cho các doanh nghiệp khác. Những công ty này được gọi là Third Party (Bên thứ ba) hoặc Online Payment Processor (Nhà xử lý thanh toán qua mạng).

Rủi ro trong thanh toán qua mạng

Nếu người mua dùng thẻ tín dụng của người khác trái phép để mua hàng qua mạng, khi chủ thẻ phát hiện và khởi kiện với ngân hàng phát hành thẻ và đưa ra bằng chứng mình không hề thực hiện giao dịch đó, thì thiệt hại cuối cùng thuộc về người bán. Người bán không những không được thu tiền mà còn bị mất từ 10 – 30 dollar Mỹ cho chi phí "điều tra", chi phí này được gọi là phí charge-back, thường được nêu rõ trong mục điều khoản khi người bán xin Merchant Account hoặc mua dịch vụ của Third Party.

Tỷ lệ gian lận thẻ tín dụng ngày càng giảm vì công nghệ xử lý thanh toán qua mạng ngày càng tiến bộ hơn. Đây là điều rất tốt củng cố lòng tin của người mua hàng qua mạng trong TMĐT B2C.

Theo Vitanco