Friday, July 13, 2007

6 giai đoạn của việc học một ngôn ngữ


Để học bất cứ một ngôn ngữ lập trình nào những người mới bao giờ cũng phải trải qua 6 giai đoạn.

1. Quan niệm
2. Thử nghiệm
3. Trải nghiệm
4. Kiểm nghiệm
5. Chiêm nghiệm
6. Sáng tạo


Quan niệm
Hãy xác định nhiệm vụ học cho các bạn. Không có định hướng, không còn tầm nhìn bao quát về thế giới phần mềm và không có cá tính, bạn chắc rồi cũng rời bỏ sớm ngành phần mềm nếu không thì cũng chỉ là một coder hay tester ba phải, người mà lúc nào cũng chỉ được coi là một nhân vật bình thường về mọi mặt, không có sự nổi bật và luôn đứng đầu trong đề cử danh sách về hưu non.

Tiêu chuẩn số 1 của một nhà phát triển phần mềm giỏi là sự đề cao tự học. Trường lớp hay trung tâm không phải là nơi đáng tin cậy để học vì người giỏi ko bao giờ chịu mài đũng quần trên ghế bục giảng để giảng đi giảng lại một thứ kiến thức liên tục cũ đi sau vài tháng. Nếu người giỏi thích nói chuyện thì conference là chỗ của họ vì họ thích trao đổi với các industry expert chứ không phải là dọa dẫm học viên.

Diễn đàn này cũng có thể là nơi để học hỏi nhưng đừng nghĩ là người có hiểu biết sẽ trả lời bạn một cách tường tận và chi tiết như thể họ là ông nội của bạn vậy. Muốn họ trả lời hãy học cách hỏi, trước khi hỏi hãy search. Sau khi nhận được câu trả lời hãy search.

Thử nghiệm
PHP là một công nghệ bao gồm có 6 bộ phận:
+ Bộ thông dịch
+ Ngôn ngữ
+ Cấu trúc dữ liệu
+ Các thuật toán trên dữ liệu hay còn gọi là các API
+ Các công nghệ đi kèm hoặc có thể giao tiếp được với PHP.
+ Các best practice đặc thù của riêng công nghệ đó.

Hãy tập cài đặt bộ thông dịch PHP, Apache, MySQL và chạy triển khai các ứng dụng PHP có sẵn.
Hãy thử nghiệm ngôn ngữ PHP với các vòng lặp, điều kiện, in, nhúng HTML, làm quen function, method, class
Cấu trúc dữ liệu là một phần khác của PHP. Ở công nghệ này Hash, Array và Map đều được gộp vào kiểu array. Rất dễ chịu cho bạn khi bạn đã từng làm quen với các cấu trúc dữ liệu của C# hay Java.
Cấu trúc dữ liệu không phải là một cấu trúc chết. PHP cung cấp khoảng hơn 1000 function (API) xử lý nó. Array là một kiểu như vậy. DOM là một kiểu khác. Làm bài tập trên các API dạng này là một cách tốt để làm quen với ngôn ngữ và bộ thông dịch. Các bài tập có thể chỉ là in ra một cái resume, tạo một cái layout đơn giản nhất từ việc sử dụng include, tạo một form nhập liệu đơn giản, tạo một form upload đơn giản...

Tài liệu sách vở thì có rất nhiều. Bạn nên đọc các chương trong PHP Manual. Đọc các tutorial trên mạng và luyện tiếng Anh. Các ebook đáng chú ý:

++ Apress Beginning PHP and MySQL 5 From Novice to Professional 2nd Edition (2006)
++ Apress Beginning PHP and PostgreSQL E.Commerce (2006)
++ Prentice Hall PHP 5 Power Programming (2004)
++ O'reilly Programming PHP 2nd Edition (2006)

Các công nghệ đi kèm với PHP là một thế giới cực kì phức tạp. Bạn có thể sẽ làm quen với các công nghệ opcode hay biên dịch mã PHP ra mã nhị phân để chạy thay vì nhìn nó dưới dạng text. Nó là một extension nguồn mở của công nghệ PHP. Bạn cũng có thể quan tâm đến việc sử dụng PHP để giao tiếp với các hệ thống con trong Linux như shared memory, gettext, socket, stream... Socket và stream là các công cụ vạn năng để PHP giao tiếp với các hệ thống phần cứng và phần mềm. Bạn cũng có thể quan tâm đến sử dụng PHP và C trên cùng một file PHP thông thường hay nhúng mã dll của các thư viện trên Windows vào PHP và sử dụng lại. PHP làm việc này thông qua việc sử dụng một ext. mã nguồn mở do Wez viết có thể tải về PECL. Bạn cũng có thể quan tâm đến việc sử dụng PHP để viết các ứng dụng desktop mà bạn có lẽ vẫn dùng VB để viết bằng cách sử dụng thư viện GTK.

Tuy nhiên điều bạn có thể sẽ quan tâm hơn cả là liệu PHP được hỗ trợ như thế nào để giao tiếp với các hệ thống khác. PHP có thư viện để giao tiếp với Active Directory, LDAP, các hệ thống hỗ trợ SMTP/POP3/IMAP/FTP/SSL, SMS Gateway, GIS server, Router... PHP được Java hỗ trợ tốt để trở thành một công nghệ trên Java platform và nhờ đó bạn có thể gọi các gói Java để sử dụng lại hay sử dụng các application server của Java như Sun One Webserver, Glassfish application server thay cho Apache server hoặc sử dụng các dịch vụ Java khác như OpenSSO. JSON và XML được hỗ trợ buit-in trong PHP cũng là phần rất đáng tìm hiểu vì các nhà công nghiệp phần mềm ở các tổ chức chuẩn công nghiệp như OASIS, ECMA hay W3C sử dụng các gọi này để giúp PHP hỗ trợ kiến trúc Webservice/SOA, SDA, MDA (phần này do IBM đóng góp cho cộng đồng PHP).....

Phần PHP giao tốt tốt nhất có lẽ là database. OCI do Oracle đóng góp, DB2 do IBM đóng góp, libmysql do MySQL AB đóng góp và pgsql do cộng đồng PostgreSQL đóng góp và luôn hỗ trợ các bản database mới nhất. Ngoài ra PHP có sẵn một database server SQLite nhúng đi kèm với mọi bản PHP 5.0+ có thể giúp bạn tiện trong việc xử lý các nhóm data nhỏ nhưng đủ mạnh mẽ như Access.

PHP là một công nghệ đặc biệt và nó có các đặc trưng riêng như share nothing. Điều này làm cho PHP có tính scalability rất tốt và được các mạng xã hội rất chuộng. Không phải ngẫu nhiên mà Tim Bray, giám đốc các công nghệ Web của Sun lại cho là PHP có tính scalable hơn Java trên tầng presentation (http://www.tbray.org/talks/php.de.pdf) trong khi từ trước đến nay họ vẫn tự hào là công nghệ Java cho họ thống trị thế giới web doanh nghiệp, các phần mềm ngân hàng và thị trường viễn thông, vượt trội cho với công nghệ .NET của Microsoft. Đặc điểm này của PHP cũng là tâm điểm tạo ra các best practice mà bạn cần khai thác khi lập trình với PHP.

Trải nghiệm
Là giai đoạn bạn bắt đầu quan tâm đến việc dùng PHP để code các ứng dụng sản xuất bằng việc tự tin sử dụng các API. Giai đoạn này hoàn toàn phù hợp với việc lấy một chứng chỉ Zend nếu bạn muốn. Tuy nhiên Zend chỉ chứng nhận bạn là có kĩ năng để nhớ API, một điều khá cần để code API với notepad Đặc trưng của giai đoạn này là thực hành để có các cảm nhận chung về kĩ năng code. Giai đoạn này sẽ đem lại cho bạn một niềm tự hào trẻ con nhưng rất cần thiết. Giai đoạn này bạn sẽ phải kết hợp PHP với CSS/XHTML, graphic design, SQL, web authoring, Javascript, web hosting, system scripting... Là một lập trình PHP, bạn tự biết mình phải đa tài hơn các lập trình viên ASP.NET, nơi tooling thống trị kĩ năng handcode, hơn Java, nơi mà kĩ năng viết business logic được chú trọng hơn

Kiểm nghiệm
Nếu như giai đoạn trải nghiệm là giai doạn code bung bét, bug tùm lum, bảo mật bằng không thì đây chính là lúc bạn quan tâm đến việc refactor lại code. Bạn có thể tạo ra nhiều function và class hơn trong một nỗ lực cố gắng làm cho chúng modular hơn. Bạn sẽ cố áp dụng các thư viện như PEAR hay Smarty, PHPSavant vào ứng dụng của bạn để làm cho cách code của bạn đi vào chiều hướng ổn định. Lúc này bạn đã thấy được sự cần thiết phải có một coding convention nhất quán ([url=http://pcdinh.googlepages.com/phpvietnamcodingstandards]Reference[/url). Bạn sẽ quan tâm đến bảo mật hơn. Giai đoạn này sẽ giúp bạn có một lối tư duy chín chắn hơn nhưng nhiều lo ngại hơn vì bạn cho rằng bạn vẫn chưa thực sự hiểu PHP.

Chiêm nghiệm
Đây là giai đoạn bạn đã tiến đến mức cao. Bạn đã nắm được bản chất của PHP. Bạn quan tâm đến cơ chế PHP vận hành ở mức compiler hơn. Bạn bắt đầu học UML, design pattern, tìm hiểu về các hệ thống lớn. Bạn đã vững vàng trong việc tạo ra các lớp và muốn tổ chức các lớp đó cho khoa học hơn. Bạn quan tâm đến các software engineering processes và tự hỏi làm sao để áp dụng XP, Scrum hay các agile methodology khác. Bạn sẽ quan tâm đến performance, object oriented engineering, database design, system architect, code review. Bạn sẽ bắt đầu chán Pear và ghét Smarty. Việc tương tác giữa PHP và các hệ thống khác như Python, Ruby, Jaav, Erlang .. trở nên quan trọng hơn với bạn lúc này vì cuối cùng thì bạn đã nhận ra PHP có nhiều điểm yếu nhưng không tới mức phải thay thế PHP bằng 1 giải pháp khác. Các công nghệ mã nguồn mở và tự do sử dụng phân phối như Java, Perl, Python, Ruby, JRuby, Groovy, Erlang, Lua... cho phép chúng tận dụng các thư viện của nhau cũng như các điểm mạnh riêng của nhau. Đó là thời gian bạn thấy sung sướng vì đã chọn 1 công nghệ nguồn mở như Java hay PHP hay Python.

Sáng tạo
Là giai đoạn cao nhất và cũng phức tạp nhất vì lúc này bạn đã hiểu công nghệ đến mức có thể triển khai các hệ thống lớn, customize và migrate các ứng dụng phức tạp. Có đủ tư duy và kiến trúc cũng như độ trải nghiệm thực tế để thiết kế hệ thống . Lúc này bạn đã có thể tự đặt cho mình mục tiêu làm các ứng dụng lớn với PHP kiểu như
+ Flickr: 60 000 LOC
+ Digg: 200 000 LOC
Bạn cũng có thể hoàn toàn tự tin dùng PHP để tạo ra các ứng dụng ERP, CRM, Forecast System vốn thường được code bằng Java, ASP.NET hay Delphi có truyền thống đắt đỏ, kén server, đòi hỏi nhiều tài nguyên. Lúc đó, PHP trong tay bạn đã vượt ra khỏi phạm vi của một công nghệ web vì bạn đã biết đủ PHP và mối quan hệ với các công nghệ bổ sung cũng như kinh nghiệm triển khai các công nghệ đó.

Bạn đột nhiên quan tâm nhiều đến các cuộc hội thảo. Bạn thấy kinh nghiệm của các industry expert thật cần thiết và gần gũi với khả năng của bạn. Có thể một lúc nào đó, bạn thấy mình gần như là một thought leader. Một lúc khác, bạn lại muốn nhập vai một C hacker.

Lúc này bạn đã lớn rồi. Ai dám khuyên bạn nữa chứ Cẩn thận, bạn có thể là một PHP Dictator đấy.

Tác giả: pcdinh

10 kỹ năng để dân IT luôn được "săn đón"

Để được trải thảm đỏ chào đón vào các doanh nghiệp, bạn cần phải có đủ những kỹ năng mà nhà tuyển dụng yêu cầu. Dưới đây là danh sách 10 kỹ năng được giới chuyên gia đánh giá là "hot" nhất trong thời gian tới.

1. Phát triển thuật toán

Với việc bộ lọc thư rác, các ứng dụng teamwork và phát hiện lừa đảo ngày càng trở nên phức tạp, tinh vi, các doanh nghiệp ngày càng cấn đến những nhân viên IT có thể thiết kế và phát triển thuật toán hoặc kỹ xảo để nâng cao hiệu suất cho máy tính.

"Ngày càng có nhiều ứng dụng với quy mô dữ liệu khổng lồ. Cách thức tổ chức, sắp xếp và trình bày dữ liệu có một vai trò cực kỳ quan trọng".

Những kỹ năng như đào xới, tìm kiếm dữ liệu, lập mô hình số liệu thống kê... ngày càng được coi trọng. Bạn có thể học kỹ năng này thông qua kinh nghiệm làm việc thực tế hoặc ở trường lớp. Chỉ cần bạn nắm vững kỹ năng này trong tay, các doanh nghiệp sẽ "giật" bạn về nhanh như chưa bao giờ được nhanh vậy.

2. Di động hóa các ứng dụng

Cuộc đua cung cấp nội dung cho thiết bị di động đang bước vào hồi nước sôi lửa bỏng, thậm chí "hoang dại và điên cuồng" giống như cơn sốt Internet hồi những năm 90 vậy, ông Sean Ebner, Phó chủ tịch hãng Tuyển dụng Spherion Pacific cho biết.

Thêm vào đó, những thiết bị như BlackBerry, Treo đã trở thành công cụ làm việc quan trọng, không thể thiếu của nhiều người. Hơn bao giờ hết, các doanh nghiệp cần có một nhân viên kỹ thuật với kiến thức chuyên sâu về di động hóa. "Họ cần có người đưa các ứng dụng lên trên thiết bị di động", Ebner dự đoán.

3. Mạng không dây

Các công nghệ mạng không dây như Wi-Fi, WiMax và Bluetooth ngày càng trở nên phổ biến. Hệ quả là doanh nghiệp nào cũng muốn lôi về một "bậc thầy" không dây, người am hiểu sâu sắc từng công nghệ một, những nguy cơ bảo mật tiềm ẩn, cách phối hợp các công nghệ với nhau sao cho tối ưu nhất...

Tất nhiên, chưa có ai được tuyển về chỉ vì anh ta là một kỹ thuật viên không dây. Anh ta trước hết phải là một nhà quản trị mạng tốt, trước khi có kiến thức chuyên sâu về mạng không dây mà thôi.

4. Giao diện người dùng

Một lĩnh vực khác cũng đang thu hút nhu cầu rất cao là thiết kế giao diện người dùng. "Nhà kỹ sư phần mềm không thể ném vào mặt người dùng một đống những thứ lem nhem, lổn nhổn được", ông Ebner nói. Nhờ vào những hãng như Apple, người dùng ngày càng được tiếp cận với những sản phẩm được thiết kế rất hợp lý và thân thiện. Vì thế, doanh nghiệp có quyền đòi hỏi tất cả những phần mềm mà họ sử dụng đều phải có một giao diện rõ ràng và dễ dùng.

5. Quản lý dự án

Trong các chiến dịch săn đầu người của doanh nghiệp, trưởng nhóm dự án bao giờ cũng là vị trí được lùng sục nhiều nhất. "Nhà tuyển dụng muốn có một người thật sư am hiểu về vòng đời của dự án, thật sự điều hành và vận hành được dự án, có thể dẫn dắt tất cả những thành viên còn lại", ông Grant Gorden, Giám đốc quản lý của Overland Park nhận định.

Một năm trước, ứng cử vào vị trí Trưởng nhóm dự án rất dễ. Nhưng giờ đây, những cuộc phỏng vấn trở nên xương xẩu hơn rất nhiều. Các ứng viên thích hợp ngày càng ít, nhưng một khi đã đủ tiêu chuẩn, họ có thể thoải mái lựa chọn mức lương và chế độ làm việc của mình.

6. Kỹ năng chung về mạng

Dù là bạn làm việc trong lĩnh vực nào của IT đi chăng nữa, bạn cũng không thể thoát khỏi mạng. Các kỹ sư phần mềm cũng phải có khái niệm cơ bản về mạng thì mới viết được những phần mềm tương thích tốt với Internet hay mạng nội bộ, Ethernet, sợi quang và TCP/IP.

"Họ cần hiểu rõ ứng dụng của mình sẽ hoạt động trong môi trường mạng như thế nào. Họ cần tận dụng được ưu thế của mạng trong thiết kế của mình".

7. Mạng hội tụ

Cùng với việc VoIP ngày càng được nhiều doanh nghiệp ứng dụng, nhà quản trị mạng cần nắm được tất cả các loại mạng khác nhau như LAN, WAN, điện thoại, Internet... cũng như cách chúng hội tụ với nhau.

"Khi xảy ra sự cố, không ông sếp nào lại muốn nhà quản trị mạng đổ lỗi cho đường dây điện thoại, trong khi nhân viên điện thoại lại hất hàm "Đi mà hỏi ông mạng ấy". Nói tóm lại, doanh nghiệp cần có một người làm trong lĩnh vực điện thoại nhưng am hiểu về mạng IT hoặc ngược lại, quản trị mạng nhưng am hiểu về mạng điện thoại.

8. Lập trình nguồn mở

Số lượng doanh nghiệp có hứng thú với các tài năng nguồn mở ngày một nhiều, cả trên phương diện hệ điều hành lẫn ứng dụng. Những người có kinh nghiệm lập trình với Linux, Apache, MySQL và PHP sẽ thấy mình được các hãng săn đón đến thế nào.

9. Bảo mật nhúng

Ngày nay, dễ dàng nhận thấy bất cứ vị trí tuyển dụng nào, trong phần mô tả công việc, cũng nhắc đến hai từ bảo mật. Doanh nghiệp muốn tìm một người có khả năng thiết lập nên những môi trường đảm bảo an ninh, dù cho đó là máy chủ email hay phát triển phần mềm. Bảo mật đã trở thành một phần không thể tách rời của công việc.

Rõ ràng là tư duy của doanh nghiệp đã thay đổi. Bảo mật không còn là chuyện của riêng một ai đó, mà nó đã được tích hợp vào hoạt động thường ngày của hãng. Tất nhiên, sẽ vẫn cần có chuyên gia riêng về bảo mật, nhưng một nhân viên IT bây giờ cũng phải nắm được các quy chuẩn tối thiểu về bảo mật thông tin.

10.Tích hợp công nghệ ngôi nhà số

"Mái ấm" của mỗi người đang dần biến thành thiên đường của công nghệ cao. Thị trường nghe - nhìn gia đình được dự đoán sẽ tăng trưởng chóng mặt trong thời gian tới, cùng với bảo mật gia đình và hệ thống chiếu sáng tự động hóa. Vấn đề là ai sẽ lắp đặt những hệ thống này đây, và ai sẽ sửa chúng khi có trục trặc xảy ra.

"Đây sẽ là lĩnh vực tuyển dụng cực nóng trong những tháng tới", ông Grant Gorden cho biết.

Theo Vietnamnet-ComputerWorld

Sunday, July 08, 2007

Đánh giá Website

Khách hàng là người quyết định - điều này cũng đúng trong thế giới web. Số lượng khách truy cập website, số trang khách xem, thời gian khách dừng chân… quyết định thứ hạng và giá trị của website.

Thế giới web ngày càng nhộn nhịp, thu hút không chỉ người dùng cá nhân mà cả doanh nghiệp. Ngày càng có nhiều công ty lập website, kinh doanh và quảng cáo trên web. Tuy theo đuổi những mục tiêu khác nhau nhưng hầu hết các công ty đều cần đo lường hiệu quả công sức và tiền của mà họ đã đầu tư trên web.

Câu nói "khách hàng luôn đúng" lại vẫn đúng! Website có nội dung hấp dẫn, sẽ có nhiều khách truy cập; nội dung website được cập nhật, khách sẽ đến thường xuyên. Những "số đo" về khách truy cập website có thể trả lời cho các câu hỏi như: "mức độ thu hút của website?", "hiệu quả của chiến dịch tiếp thị?", "sự trung thành của khách hàng?", "phân khúc khách hàng quan trọng?"… những số liệu này giúp các chủ website hiểu được khách hàng của mình tốt hơn và có thể đưa ra những chiến lược thích hợp đem lại sự hài lòng cho khách hàng và lợi nhuận cho website.

Các chỉ số

 

Hình 1. Chỉ số pageview và visitor có thể được dùng để xếp hạng website

Khi nói đến mức độ thu hút của website, người ta thường trưng ra số "hit" – số lượt truy cập. Không có gì lạ vì đây là chỉ số có thể gây ấn tượng nhờ trị số lớn.

Hit thường được đếm khi có một thành phần dữ liệu (file) được truy xuất từ máy chủ web (web server). Một trang web có thể gồm nhiều thành phần như CSS, JavaScript, hình,… Khi trình duyệt của người dùng mở một trang web, nó sẽ yêu cầu tất cả thành phần này từ web server, mỗi yêu cầu có thể được đếm như 1 hit. Nếu thiết kế "khéo", một trang web có thể tạo nên hàng chục hit mỗi lần được truy cập.

Số hit thường do các website tự đếm và không có dịch vụ độc lập kiểm chứng, nó hay được nói quá lên và cũng rất dễ dùng kỹ thuật lập trình tạo ra số hit tăng phi mã. Do tình trạng lạm phát, hit đã bị mất giá và giờ đây không còn được xem là thước đo chính cho website.

Tương tự hit, số trang xem - "pageview" - cũng được đếm khi có yêu cầu truy xuất file từ web server nhưng chỉ đếm cho trang chính (file .htm, .asp, .php…), không tính các thành phần trong trang. Nhiều website hiện nay đã áp dụng cách đếm "trung thực" này tuy vẫn dùng tên "hit", khi này số hit chính là số pageview. Số pageview có ý nghĩa không chỉ vì nó cho biết số trang "thật" được xem mà còn cho biết số quảng cáo được hiển thị cùng với trang (quảng cáo có thể được bán theo phương thức CPM – Cost Per iMpression, tính cho mỗi 1000 trang xem).

Hiện được xem là 1 trong 2 "thước do" chính của website (Hình 1), tuy nhiên chỉ số pageview có nguy cơ bị thất sủng do những kỹ thuật mới như Ajax, RSS, mashup… và sự phát triển của video trên web. Những kỹ thuật mới như Ajax đem đến cho người dùng thông tin nhanh hơn, nhiều hơn, tiện lợi hơn và ít phải nạp trang web hơn, do vậy giảm số pageview. Pageview càng bị thất thu với video - với những website như YouTube người ta có thể xem cả thước phim (có thể xen kẽ hàng chục cảnh quảng cáo) chỉ với 1 trang xem.

Hình 2. Chỉ số thời gian cho biết "sức hút" của trang đối với những đối tượng khách khác nhau.

 

Chỉ số thứ 2 hiện được trọng dụng là số khách truy cập ("visitor" hay "unique visitor"). Khách truy cập website được xác định dựa trên thông tin nhận dạng thường là địa chỉ IP hay dữ liệu cookie "không trùng" trong khoảng thời gian quy định (chẳng hạn 12 giờ hay 24 giờ). Trong thời gian này, mỗi khách chỉ được đếm 1 lần dù truy cập website nhiều lần (và tạo nên nhiều hit). Chỉ số này rất có ý nghĩa đối với các báo điện tử và công ty quảng cáo. Rõ ràng, nhiều người xem quan trọng hơn là chỉ một nhóm người xem đi xem lại nhiều lần.

Tuy nhiên, số đo "unique visitor" không phải lúc nào cũng phản ánh đúng số khách "không trùng" truy cập website. Hàng chục hay hàng trăm người dùng trong một mạng nội bộ (LAN) có thể giao tiếp với thế giới bên ngoài chỉ qua một địa chỉ IP (thông qua firewall hay proxy server) và do vậy chỉ được đếm như một visitor. Một số nhà cung cấp dịch vụ Internet có thể sử dụng DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol) sinh ra địa chỉ IP khác nhau cho mỗi file được yêu cầu, trong trường hợp này thì một khách truy cập lại được đếm như nhiều visitor. Rất may là những trường hợp này không phổ biến.

Cùng với số visitor, thời gian mà khách lưu lại website cũng là số đo quan trọng, đánh giá sự quan tâm của khách (Hình 2). Dù nhắm đến mục tiêu gì thì trước hết website cần phải có được sự quan tâm của khách. Số trang xem hay số visitor dù có lớn đến mấy đi nữa cũng sẽ mất ý nghĩa khi mà khách đến rồi đi ngay, không hề dành thời gian xem nội dung và quảng cáo. (Xem phần "Click hay không click?").

Chỉ số thời gian cùng với các chỉ số đánh giá sự tương tác của khách với website như tỉ lệ khách thực hiện giao dịch (ví dụ mua hàng trực tuyến) hay tỉ lệ khách quay lại so với khách mới… không chỉ đánh giá số lượng mà cả chất lượng khách truy cập.

Các chỉ số về chất lượng ngày càng được quan tâm. Trong môi trường Internet ngày càng cạnh tranh, người ta càng phải chú trọng vào thị trường hẹp hơn và càng cần khách chất lượng hơn có tiềm năng trở thành khách hàng thật sự (thực hiện giao dịch).

Dịch vụ "kiểm toán" các chỉ số của website hiện đang phát triển mạnh cùng với xu thế thương mại điện tử. Hiện có đến gần cả trăm dịch vụ đánh giá website trên thị trường, có thể một số tên tuổi lớn như Nielsen Netratings (www.nielsen-netratings.com), comScore (www.comscore.com/metrix), Ominture (www.omniture.com), WebTrends (www.webtrends.com), WebSideStory (www.websidestory.com), Coremetrics (www.coremetrics.com), Core Metrics (www.coremetrics.com), HitsLink (www.hitslink.com), Hitwise (www.hitwise.com)… Ngoài những chỉ số pageview, visitor, thời gian, các dịch vụ này còn có thể ghi nhận nhiều số liệu chi tiết về khách truy cập như họ từ đâu đến và cần tìm gì, họ dùng trình duyệt gì, độ phân giải màn hình bao nhiêu… và cung cấp những tính năng báo cáo thống kê, phân tích dữ liệu tinh vi phục vụ cho việc đánh giá số lượng và chất lượng khách truy cập, hiệu quả hoạt động của website và những chiến dịch quảng cáo tiếp thị trên web.

Những dịch vụ trên cung cấp nhiều thông tin giá trị nhưng giá cũng cao. Giải pháp đắt tiền không phải lúc nào cũng tốt, có những dịch vụ ít tốn kém hơn vẫn có thể cung cấp số liệu thống kê hữu ích cho những website cỡ vừa và nhỏ, như VisiStats (www.visistat.com), ClickTracks (www.clicktracks.com) hay NetTracker (www.sane.com), thậm chí còn có dịch vụ miễn phí nhưng đáng giá như Google Analytics (www.google.com/analytics).

Bỏ ra 30 triệu USD mua hãng Urchin để cung cấp dịch vụ miễn phí (Google cũng có dịch vụ thu phí cung cấp số liệu chi tiết hơn), Google thật sự gây khó cho các dịch vụ cạnh tranh khác nhưng được các chủ website hoan nghênh về những số liệu thống kê phong phú và giá trị, có cả chỉ số về số lượng (lượng truy cập, trang xem,…) lẫn về chất lượng (thời gian, tỉ lệ giao dịch…). Cái tên Google có thể đảm bảo cho độ tin cậy của những chỉ số này. Đây là dịch vụ đánh giá web miễn phí đáng giá nhất hiện nay (Hình 3).

Hình 3. Google Analytics có thể cho biết khách từ đâu đến và họ cần tìm gì.

 

Hình 4.

Có một dịch vụ miễn phí khác khá được ưa chuộng đó là Alexa (www.alexa.com). Dịch vụ này đánh giá các chỉ số pageview và "reach" (tính theo số visitor) để xếp hạng website. Khác với Google Analytics có yêu cầu chèn mã lệnh vào các trang web của website cần đánh giá, Alexa thu thập dữ liệu thông qua công cụ Alexa Toolbar cài trên máy khách. Dịch vụ Alexa tiện lợi cho việc so sánh tương quan "thế lực" giữa các website với nhau, tuy nhiên chỉ có tính tham khảo vì thứ hạng Alexa không phản ánh chính xác giá trị của website. Thứ nhất, số lượng người cài Alexa Toolbar nhỏ không đủ đại diện cho cộng đồng người dùng Internet (thật sự chẳng có mấy ai cài công cụ này chỉ để biết thứ hạng của những website mà họ truy cập - mục đích chính của công cụ này). Thứ hai, thứ hạng Alexa dễ bị thao túng, đơn giản nhất là khai thác ngay chính Alexa Toolbar (nhờ nhiều người cài đặt công cụ này và truy cập website thường xuyên), tinh vi hơn thì có thể sử dụng những công cụ như Alexabooster hay Alexa Surf.

Thêm một tên tuổi lớn chuẩn bị vào cuộc sau Google. Năm rồi Microsoft đã mua hãng Deepmetrix (giá chưa được công bố) và sẽ đưa ra dịch vụ đánh giá web trong nay mai, theo nhiều nguồn tin thì dịch vụ này có tên là Gatineau và sẽ được cung cấp miễn phí (Hình 4). Đây có thể sẽ là đối thủ xứng tầm với Google Analytics. Hiện tại Microsoft có giới thiệu thử nghiệm dịch vụ AdCenter Labs (http://adlab.msn.com/DPUI/DPUI.aspx) đánh giá và dự báo về giới tính và độ tuổi của khách truy cập website. Các chỉ số này khá thú vị nhưng khó có thể nói về độ chính xác vì chỉ dựa vào dữ liệu người dùng mạng MSN mà không yêu cầu can thiệp gì đến mã lệnh của website cần đo hay cài đặt công cụ trên máy người dùng (Hình 5).

Hình 5. Microsoft AdCenter cho những số liệu thống kê thú vị về giới tính và độ tuổi của khách

 

Hiện còn có nhiều dịch vụ đo website miễn phí khác cũng rất tốt như StatCounter (www.statcounter.com), ClickTracks Appetizer (www.clicktracks.com/products/appetizer/), eXTReMe Tracking (extremetracking.com), SiteMeter (www.sitemeter.com), Add Free Stats (addfreestats.com), Compete (www.compete.com)… một số sử dụng cách thức chèn mã như Google Analytics (trong số này, khác với Google Analytics, một số dịch vụ không được ẩn mà buộc phải hiển thị "nhãn hiệu" của dịch vụ trên các trang web cần đánh giá), một số thu thập dữ liệu qua công cụ cài trên máy khách như Alexa, cũng có dịch vụ lấy thông tin kết hợp từ nhiều nguồn (như Compete, đối thủ của Alexa, thu thập thông tin qua công cụ cài trên máy khách kết hợp với thông tin lấy từ các ISP).

Ngoài ra, hiện cũng có một số dịch vụ đánh giá blog miễn phí như FeedBurner (www.feedburner.com, cho phép đánh giá cả RSS và Podcast) (Hình 6), Measure Map (www.measuremap.com, thuộc Google), IceRocket (tracker.icerocket.com, có xếp hạng blog)… Blog là một dạng website đặc biệt, cần có những chỉ số đặc biệt như số bài gửi lên blog (post) hay số bài bình (comment).

Hình 6. FeedBurner có thể đánh giá blog, RSS và Podcast.

Tuy nhiên không hẳn các chỉ số về khách hàng cao đều tốt và ngược lại, điều này còn tuỳ mô hình kinh doanh của website. Ví dụ, chỉ số pageview cao tốt cho website báo trực tuyến vì nó có nghĩa nhiều bài được xem (và có thể thu hút nhiều quảng cáo), nhưng với website hỗ trợ khách hàng thì lại không tốt vì nó có nghĩa khách hàng gặp nhiều trục trặc (với sản phẩm của công ty) và cần hỗ trợ. Hay với dịch vụ tìm kiếm Google, chỉ số thời gian thấp vì Google cung cấp nhanh thông tin khách cần tìm, chỉ số pageview của mỗi khách cũng không cao vì Google có cơ chế xếp hạng để đưa ra những kết quả tìm kiếm thích hợp nhất ngay trang đầu, điều này tốt cho cả Google và người dùng (nhờ vậy Google có lượng khách truy cập thường xuyên đông).

Tùy mô hình kinh doanh, mỗi website có thể cần những chỉ số khác nhau. Và chỉ số chính là chỉ số cho thông tin mà chủ website cần hay "có lợi" (thường được công bố) giúp đánh bóng tên tuổi website. Việc kiểm toán chỉ số cũng tùy: tùy qui mô và lưu lượng của website, và tùy số tiền mà chủ wesbite muốn chi. Để "chứng thực" thế lực của mình, các website lớn có lượng khách truy cập hàng ngày từ hàng triệu trở lên có thể phải cần đến những dịch vụ kiểm toán tên tuổi và có phí. Tuy nhiên đôi khi giải pháp miễn phí (như Google Analytics) cũng có thể cung cấp những số liệu giá trị về website.

Cần đánh giá chỉ số nào và sử dụng dịch vụ kiểm toán nào thì tuỳ, nhưng có một điều chắc chắn đó là website cần được đánh giá.

 

CLICK HAY KHÔNG CLICK?

 
 

Click (nhấn chuột) - một hình thái khác của hit - cũng là một chỉ số quan trọng của website, cho biết hiệu quả của quảng cáo trên web. Số click cao được hiểu là có nhiều người quan tâm - thể hiện bằng việc "click" hay nhấn lên banner hay logo quảng cáo (và làm tăng số click). Và phương thức tính click thu phí (Pay Per Click - PPC hay Cost Per Click - CPC) hiện rất được ưa chuộng.
Giống như hit, click cũng bị tình trạng "ảo". chỉ số này có thể được ngân lên hay được "bơm" dùng chương trình sinh click tự động (được biết đến với tên gọi "clickbot"). Để tránh tình trạng này, click thường được ghi nhận cùng với thông tin nhận dạng (như địa chỉ IP, cookie). Nhưng giải pháp này không triệt để vì vẫn có thể bị "qua mặt": dùng công cụ tạo địa chỉ IP ảo. Để đối phó, lại phát sinh thêm các dịch vụ kiểm tra click ảo như Click Auditor (http://www.keywordmax.com/click_auditor.html),Vericlix (http://www.vericlix.com)… nhưng trận chiến "click" chưa kết thúc. Các công ty quảng cáo trên web còn phải đau đầu với tình trạng "đọc thuê", phương thức này đơn giản nhưng khó bị phát hiện: số lượng lớn người dùng ở rải rác khắp nơi được thuê thường xuyên nhận email quảng cáo và truy cập website khách hàng quảng cáo (số tiền thuê nhỏ hơn nhiều so với số tiền chủ website nhận được từ khách hàng quảng cáo). Những người này không hề quan tâm đến nội dung trang web hay quảng cáo, họ chỉ đơn giản nhấn chuột, đến trang web rồi đi ngay.
Vấn đề chính đối với click đó là yêu cầu… click! Phương thức tính click vừa làm mất thời gian của người xem (phải nhấn và đợi nạp trang web khác) vừa dễ bị "thất thu" nếu thông tin quảng cáo không "mời gọi" hay trang web của khách hàng quảng cáo không được cập nhật. Thật ra có nhiều hình thức quảng cáo không cần phải click (quảng cáo cung cấp đủ thông tin cho người xem, như quảng cáo trên TV hay báo in). Với những quảng cáo như vậy, người ta có thể sử dụng phương thức tính trang xem - PPV (Pay Per View - PPV hay Cost Per 1000 iMpression - CPM), hay lần giao dịch - CPA (Cost Per Action hay PPA - Pay Per Action).

 

Dịch vụ "kiểm toán"

Về mặt kỹ thuật, việc đo đếm số hit, pageview, visitor hay thời gian không khó. Hầu hết các nhà phát triển web đều có thể thực hiện và đa phần các website đều có chức năng này. Nếu chỉ nhằm mục đích sử dụng cho nội bộ công ty để đánh giá hiệu quả hoạt động của website và nắm bắt nhu cầu của người dùng để đưa ra quyết định những điều chỉnh chiến lược thì không có vấn đề gì. Tuy nhiên, những chỉ số này còn có thể được sử dụng để "báo giá" website với đối tác (ví dụ khách hàng quảng cáo), hay để "so kè" với các website cạnh tranh khác, vì thế cần đến dịch vụ "kiểm toán" độc lập để đảm bảo tính trung thực và khả năng so sánh của các chỉ số.

Dịch vụ "kiểm toán" các chỉ số của website hiện đang phát triển mạnh cùng với xu thế thương mại điện tử. Hiện có đến gần cả trăm dịch vụ đánh giá website trên thị trường, có thể một số tên tuổi lớn như Nielsen Netratings (www.nielsen-netratings.com), comScore (www.comscore.com/metrix), Ominture (www.omniture.com), WebTrends (www.webtrends.com), WebSideStory (www.websidestory.com), Coremetrics (www.coremetrics.com), Core Metrics (www.coremetrics.com), HitsLink (www.hitslink.com), Hitwise (www.hitwise.com)… Ngoài những chỉ số pageview, visitor, thời gian, các dịch vụ này còn có thể ghi nhận nhiều số liệu chi tiết về khách truy cập như họ từ đâu đến và cần tìm gì, họ dùng trình duyệt gì, độ phân giải màn hình bao nhiêu… và cung cấp những tính năng báo cáo thống kê, phân tích dữ liệu tinh vi phục vụ cho việc đánh giá số lượng và chất lượng khách truy cập, hiệu quả hoạt động của website và những chiến dịch quảng cáo tiếp thị trên web.

Những dịch vụ trên cung cấp nhiều thông tin giá trị nhưng giá cũng cao. Giải pháp đắt tiền không phải lúc nào cũng tốt, có những dịch vụ ít tốn kém hơn vẫn có thể cung cấp số liệu thống kê hữu ích cho những website cỡ vừa và nhỏ, như VisiStats (www.visistat.com), ClickTracks (www.clicktracks.com) hay NetTracker (www.sane.com), thậm chí còn có dịch vụ miễn phí nhưng đáng giá như Google Analytics (www.google.com/analytics).

Bỏ ra 30 triệu USD mua hãng Urchin để cung cấp dịch vụ miễn phí (Google cũng có dịch vụ thu phí cung cấp số liệu chi tiết hơn), Google thật sự gây khó cho các dịch vụ cạnh tranh khác nhưng được các chủ website hoan nghênh về những số liệu thống kê phong phú và giá trị, có cả chỉ số về số lượng (lượng truy cập, trang xem,…) lẫn về chất lượng (thời gian, tỉ lệ giao dịch…). Cái tên Google có thể đảm bảo cho độ tin cậy của những chỉ số này. Đây là dịch vụ đánh giá web miễn phí đáng giá nhất hiện nay (Hình 3).

Hình 3. Google Analytics có thể cho biết khách từ đâu đến và họ cần tìm gì.

 

Hình 4.

Có một dịch vụ miễn phí khác khá được ưa chuộng đó là Alexa (www.alexa.com). Dịch vụ này đánh giá các chỉ số pageview và "reach" (tính theo số visitor) để xếp hạng website. Khác với Google Analytics có yêu cầu chèn mã lệnh vào các trang web của website cần đánh giá, Alexa thu thập dữ liệu thông qua công cụ Alexa Toolbar cài trên máy khách. Dịch vụ Alexa tiện lợi cho việc so sánh tương quan "thế lực" giữa các website với nhau, tuy nhiên chỉ có tính tham khảo vì thứ hạng Alexa không phản ánh chính xác giá trị của website. Thứ nhất, số lượng người cài Alexa Toolbar nhỏ không đủ đại diện cho cộng đồng người dùng Internet (thật sự chẳng có mấy ai cài công cụ này chỉ để biết thứ hạng của những website mà họ truy cập - mục đích chính của công cụ này). Thứ hai, thứ hạng Alexa dễ bị thao túng, đơn giản nhất là khai thác ngay chính Alexa Toolbar (nhờ nhiều người cài đặt công cụ này và truy cập website thường xuyên), tinh vi hơn thì có thể sử dụng những công cụ như Alexabooster hay Alexa Surf.

Thêm một tên tuổi lớn chuẩn bị vào cuộc sau Google. Năm rồi Microsoft đã mua hãng Deepmetrix (giá chưa được công bố) và sẽ đưa ra dịch vụ đánh giá web trong nay mai, theo nhiều nguồn tin thì dịch vụ này có tên là Gatineau và sẽ được cung cấp miễn phí (Hình 4). Đây có thể sẽ là đối thủ xứng tầm với Google Analytics. Hiện tại Microsoft có giới thiệu thử nghiệm dịch vụ AdCenter Labs (http://adlab.msn.com/DPUI/DPUI.aspx) đánh giá và dự báo về giới tính và độ tuổi của khách truy cập website. Các chỉ số này khá thú vị nhưng khó có thể nói về độ chính xác vì chỉ dựa vào dữ liệu người dùng mạng MSN mà không yêu cầu can thiệp gì đến mã lệnh của website cần đo hay cài đặt công cụ trên máy người dùng (Hình 5).

Hình 5. Microsoft AdCenter cho những số liệu thống kê thú vị về giới tính và độ tuổi của khách

 

Hiện còn có nhiều dịch vụ đo website miễn phí khác cũng rất tốt như StatCounter (www.statcounter.com), ClickTracks Appetizer (www.clicktracks.com/products/appetizer/), eXTReMe Tracking (extremetracking.com), SiteMeter (www.sitemeter.com), Add Free Stats (addfreestats.com), Compete (www.compete.com)… một số sử dụng cách thức chèn mã như Google Analytics (trong số này, khác với Google Analytics, một số dịch vụ không được ẩn mà buộc phải hiển thị "nhãn hiệu" của dịch vụ trên các trang web cần đánh giá), một số thu thập dữ liệu qua công cụ cài trên máy khách như Alexa, cũng có dịch vụ lấy thông tin kết hợp từ nhiều nguồn (như Compete, đối thủ của Alexa, thu thập thông tin qua công cụ cài trên máy khách kết hợp với thông tin lấy từ các ISP).

Ngoài ra, hiện cũng có một số dịch vụ đánh giá blog miễn phí như FeedBurner (www.feedburner.com, cho phép đánh giá cả RSS và Podcast) (Hình 6), Measure Map (www.measuremap.com, thuộc Google), IceRocket (tracker.icerocket.com, có xếp hạng blog)… Blog là một dạng website đặc biệt, cần có những chỉ số đặc biệt như số bài gửi lên blog (post) hay số bài bình (comment).

Hình 6. FeedBurner có thể đánh giá blog, RSS và Podcast.

Chọn lọc

Mọi người đều biết nội dung hấp dẫn và giao diện bố cục hợp lý, dễ dùng là những yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công của một website. Nhưng dù website có thiết kế tốt đến mấy đi nữa mà không được lòng khách hàng thì cũng vô nghĩa.

Tuy nhiên không hẳn các chỉ số về khách hàng cao đều tốt và ngược lại, điều này còn tuỳ mô hình kinh doanh của website. Ví dụ, chỉ số pageview cao tốt cho website báo trực tuyến vì nó có nghĩa nhiều bài được xem (và có thể thu hút nhiều quảng cáo), nhưng với website hỗ trợ khách hàng thì lại không tốt vì nó có nghĩa khách hàng gặp nhiều trục trặc (với sản phẩm của công ty) và cần hỗ trợ. Hay với dịch vụ tìm kiếm Google, chỉ số thời gian thấp vì Google cung cấp nhanh thông tin khách cần tìm, chỉ số pageview của mỗi khách cũng không cao vì Google có cơ chế xếp hạng để đưa ra những kết quả tìm kiếm thích hợp nhất ngay trang đầu, điều này tốt cho cả Google và người dùng (nhờ vậy Google có lượng khách truy cập thường xuyên đông).

Tùy mô hình kinh doanh, mỗi website có thể cần những chỉ số khác nhau. Và chỉ số chính là chỉ số cho thông tin mà chủ website cần hay "có lợi" (thường được công bố) giúp đánh bóng tên tuổi website. Việc kiểm toán chỉ số cũng tùy: tùy qui mô và lưu lượng của website, và tùy số tiền mà chủ wesbite muốn chi. Để "chứng thực" thế lực của mình, các website lớn có lượng khách truy cập hàng ngày từ hàng triệu trở lên có thể phải cần đến những dịch vụ kiểm toán tên tuổi và có phí. Tuy nhiên đôi khi giải pháp miễn phí (như Google Analytics) cũng có thể cung cấp những số liệu giá trị về website.

Cần đánh giá chỉ số nào và sử dụng dịch vụ kiểm toán nào thì tuỳ, nhưng có một điều chắc chắn đó là website cần được đánh giá.

Phương Uyên

Source: http://thegioicongnghe.wordpress.com/2007/06/18/danh-gia-website/